Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 26 tháng 6 năm 2017

 Sống đạo: Sống đạo
(06/09/2016 20:25 PM)
Chia sẻ tin:
BÍ QUYẾT CỦA MẸ TÊ-RÊ-SA CALCUTTA: “TÔI CẦU NGUYỆN”
[Kk 5,1-4a; Mt 1,1-16.18-23]

Câu


]

C
]

C
]

C
]

C
]

C

3.

http://3.bp.blogspot.com/-YSLtUBs2WdE/UFRKU1aGBuI/AAAAAAAATzM/7nw_iKx3kkQ/s1600/Teresa%2Bpraying.jpg

Ngày 4/9/2016, nhân viết bài chia sẻ Tin Mừng CN XXIV/TN-C (Lc 15,1-32) với tựa đề: “Dụ ngôn về Lòng Thương Xót”. Khi lên mạng truy cập tài liệu, mới biết đó là ngày Đức Thánh Cha Phan-xi-cô chủ sự Thánh lễ tuyên hiển thánh cho Mẹ Tê-rê-sa Calcutta. Trong bài giảng, ĐTC phát biểu: “Hoạt động thương xót không mỏi mệt của Mẹ Tê-rê-sa Calcutta ở vùng ngoại biên các thành phố và cuộc sống giúp chúng ta luôn ngày càng hiểu rằng tiêu chuẩn hoạt động duy nhất của chúng ta phải là tình yêu thương nhưng không, tự do khỏi bất cứ ý thức hệ hay ràng buộc nào, và tuôn đổ trên tất cả mọi người, không phân biệt ngôn ngữ, văn hóa, chủng tộc hay tôn giáo. Mẹ Tê-rê-sa thường nói: “Có lẽ tôi không nói tiếng của họ, nhưng tôi có thể cười”. Chúng ta hãy mang theo trong tim nụ cười của Mẹ và trao ban nó cho những ai chúng ta gặp trên đường đời, nhất là cho những người đau khổ.” (nguồn: Vatican.net).

Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ thú: Khi viết về “Lòng Thương Xót” lại được biết thêm về một mẫu gương “Hoạt động thương xót không mỏi mệt của Mẹ Tê-rê-sa Calcutta”! Vì thế, xin có đôi lời chia sẻ về một vị nữ tu đã được cả thế giới tôn xưng là Mẹ. Tên thật của Mẹ là Agnes Gonxha Bojaxhiu; sinh ngày 26/8/1910 tại Skopje, Macedonia, Yugoslavia (Nam Tư), con út trong một gia đình có ba người con; cha làm nghề xây dựng. Tê-rê-sa là tên thánh khi Mẹ lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Mẹ Tê-rê-sa thường tâm sự: ngày Rửa Tội chính là ngày sinh nhật chính thức trong cuộc đời của Mẹ. Ðủ 18 tuổi, Mẹ Tê-rê-sa gia nhập Dòng Nữ Vương Bác Ái (quen gọi là Dòng Ðức Bà Loreto) ở Dublin, Ái Nhĩ Lan (Ireland). Mẹ Tê-rê-sa đã lấy tên thánh của mình làm thánh hiệu trong Tu viện (để luôn tưởng niệm Thánh nữ Tê-rê-sa Lisieux), nên có tên gọi là sơ Tê-rê-sa. Tháng 12/1928, sơ Tê-rê-sa bắt đầu một cuộc hành trình dài đến Darjeeling, khu vực gần dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) ở Ấn Ðộ, tiếp tục tu học cho đến ngày khấn trọn. Không lâu sau đó, vào ngày 6/01/1929, sơ Tê-rê-sa đến dạy học tại một trường Nữ Trung học ở Calcutta (Kolkata) là thủ phủ của bang Tây Bengal thuộc khu vực miền Đông Ấn Độ,. Trong thời gian tại Calcutta, điều đánh động tới tâm can sơ Tê-rê-sa nhiều nhất đó là tận mắt trông thấy các bệnh nhân ốm liệt, nghèo đói và hấp hối đầy trên các đường phố. Năm 1950, được Ðức GH Pi-ô XII cho phép, Mẹ thành lập dòng Nữ tu Thừa Sai Bác Ái tại Calcutta.

Năm 1979 Mẹ Tê-rê-sa Calcutta được giải Nobel Hòa Bình. Năm 1985, được trao Huy chương Tự Do (Free Medallion), huy chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ. Nhân dịp này, các phòng viên phỏng vấn Mẹ rất nhiều. Có một phóng viên của hãng Thông tấn AFP đã hỏi một câu hóc búa: “Làm thế nào để Mẹ yêu thương được đám người mà nhân loại đã coi như một đống phế liệu? Mẹ có bí quyết gì?” Mẹ tươi cười trả lời: “Bí quyết của tôi thật đơn giản: Tôi cầu nguyện”. Năm 1986, trong chuyến công du mục vụ Ấn Độ, Đức Thánh GH Gio-an Phao-lô II đã đến thăm nhà Nirmal Hriday, là nơi Mẹ Tê-rê-sa và các nữ tu săn sóc những người bệnh hấp hối. Chuyến thăm này vừa nhằm mục đích thăm hỏi một nữ tu đã gây nhiều ấn tượng cho thánh GH, vừa để động viên toàn thể nữ tu tích cực trong hành động bác ái vô cùng cao quý này. Mẹ Tê-rê-sa Calcutta qua đời ngày 5/9/1997, hưởng thọ 87 tuổi. Gần hai năm sau khi Mẹ qua đời, vì hương thơm thánh thiện của Mẹ, Đức Gio-an Phao-lô II đã cho phép mở án phong thánh cho Mẹ, và ngày 19/10/2003 ngài đã chính thức chủ sự thánh lễ phong Chân phước cho Mẹ.

Calcutta hiện có gần 15 triệu dân. Tuy cái chết của Mẹ đã để lại một sự trống vắng nơi những người đã quen biết Mẹ, nhưng sự hiện diện của Mẹ sống động hơn bao giờ hết. Gia tài Mẹ để lại có thể nhận ra dễ dàng nơi 19 nhà của Dòng Nữ tu Thừa Sai Bác Ái, bao gồm: các nhà mồ côi, các trung tâm cho người hấp hối, các nhà dành cho bệnh nhân là phụ nữ mại dâm, các nhà săn sóc bệnh nhân liệt kháng, và các bệnh nhân tâm thần, cũng như trại phong cùi và một trường học cho trẻ em bụi đời. Các trung tâm này rộng mở tiếp đón mọi người không phân biệt tôn giáo, và các nữ tu săn sóc mọi người rất hữu hiệu, tràn đầy tình thương mến. Nhà chính, nơi có mộ của Mẹ Tê-rê-sa, hiện nay được dùng làm Tập Viện của Dòng. Số nhà của các Nữ tu Thừa Sai Bác Ái trên thế giới đã gia tăng lên 750 nhà, rải rác tại 135 quốc gia và số các nữ tu là 5.000. Với các đổi thay của xã hội, các chị cũng phải thích ứng với các kỹ thuật mới: thay vì lớp dậy đánh máy chữ như xưa kia, thì nay là lớp dậy sử dụng máy vi tính.

Viết về Mẹ Tê-rê-sa Calcutta thì đã có nhiều tác giả có những bài viết rất phong phú. Kẻ viết bài này chỉ xin suy niệm về 1 khía cạnh mà mình rất tâm đắc, đó là câu Mẹ trả lời phóng viên AFP: “Bí quyết của tôi thật đơn giản: Tôi cầu nguyện”. Xin cùng tìm hiểu về bí quyết của Mẹ:

Sống trước Mẹ hàng thế kỷ, Thánh nữ Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su (1873-1897) cũng đã chứng minh hùng hồn hiệu lực của “cầu nguyện”, vì cả cuộc đời ngắn ngủi của thánh nữ sống trong 4 bức tường khép kín của tu viện chỉ là cầu nguyện và cầu nguyện. Đến ngay như Đức Giê-su Ki-tô, Người là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, mà cũng luôn luôn cầu nguyện, cầu nguyện đến độ đổ cả mồ-hôi-máu ra (nơi vườn Ghết-sê-ma-ni). Và chính Người cũng đã nhiều lần dậy môn đệ cầu nguyện: ”Anh em hãy cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22, 40) ; “Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi Người Con.  Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó.” (Ga 14, 13-14); "Thế nên Thầy bảo anh em: anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?" (Lc 11, 11-13). Đó là những lời dạy, lời khuyên chí tình của Người Thầy Chí Thánh. Ngoài ra, Người còn dạy chúng ta một phương thức cầu nguyện hiệu quả nhất: kinh Lạy Cha. Vậy, cầu nguyện là gì và nên cầu nguyện như thế nào?

Một cách khái quát, cầu nguyện là con người giao tiếp, giao hòa với thần linh (“cầu nguyện là nâng tâm hồn và trí khôn lên cùng Thiên  Chúa” – Giáo lý Công Giáo của HĐGMVN). Khi đã nói đến giao tiếp - giao hoà thì cầu nguyện không chỉ đơn thuần là “cách thế” này hay “phương thức” kia, mà phải là “tổng hơp tương giao sống động” của toàn-thân-người-cầu-nguyện với Thiên Chúa. Tiên vàn thì phải có Đức Tin + Đức Cậy + Đức Mến thực sự (phải thực lòng tin tưởng, mới hết lòng mến yêu và  sẵn lòng cậy nhờ; còn nếu chỉ ‘tin suông’, ‘nhờ cậy được chăng hay chớ’, và ‘yêu mến kiểu hào nhoáng tô màu’, thì xin miễn bàn). Cầu nguyện là “dốc bầu tâm sự”, là “thổ lộ tâm can”, nhưng cũng đồng thời là “chiêm ngắm, suy niệm”, là “thinh lặng lắng nghe”. Cầu nguyện là “khẩu tụng tâm suy” khi đọc kinh, là “hiệp thông, hoà giải” khi dâng lễ, là “năng nổ, nhiệt tình” khi hoạt động tông đồ bác ái, là “quên mình, hy sinh” khi phục vụ. Tắt một lời, cầu nguyện là sống “hết mình, hết sức” trong giao tiếp với Thiên Chúa và hoà giải với anh em. Nếu chỉ hiểu cầu nguyện là xin, thì hãy xin cho được “ơn nước mắt” (x. Sách Lễ Rô-ma) với anh em khó nghèo, tật bệnh, hoạn nạn; xin cho được “dũng khí, can đảm” trước ba thù ; xin cho được “ơn giải thích” (1 Cr 14, 13)  trước nghịch cảnh, “ơn sáng suốt” khi bị cám dỗ. Tóm lại là hãy xin cho bản thân có được trọn vẹn điều răn quan trọng nhất trong “10 Điều Răn”, đó là điều răn YÊU THƯƠNG: “Mến Chúa, Yêu người”; bởi vì và trên tất cả, “cầu nguyện là ân huệ của Chúa Thánh Thần”.
 
Dựa theo một định nghĩa về cầu nguyện của sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (Cầu nguyện là: “Chúc tụng và thờ lạy – Khấn xin – Chuyển cầu – Tạ ơn – Ngợi khen”), Thomas H. Green, S.J., tác giả cuốn “Opening to God” (Mở ra với Chúa) dùng cách ghép những mẫu tự đầu của mỗi từ làm nên một tổng thể đặc thù: “Cầu nguyện là: Adoration (thờ lạy) + Contriction (ăn năn) + Thanksgiving (tạ ơn) + Supplication (cầu xin) => ACTS (hành động). Vâng, quả nhiên cầu nguyện là hành động, muốn cầu nguyện phải hành động, chính bởi vì "Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.” (Mt 6, 7-8); “Vì thế, Thầy nói với anh em: tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý. Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em. (Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em)." (Mc 11, 24).

Còn về phương thức và cách thế thể hiện, thì nhất thiết không cần phải câu nệ hình thức, không cứ phải như thế này hay như thế kia; bởi cầu nguyện có thể là "khẩu nguyện” (đọc kinh, đối thoại, van nài thành tiếng) và cũng có thể là "tâm nguyện” (chiêm niệm, tâm tình trong thinh lặng, lắng nghe), "trí nguyện” (suy niệm, động não xem Chúa dạy những gì, Chúa muốn mình làm gì); có thể ở giữa cộng đoàn, cũng có thể ở nơi thanh vắng; có thể đứng, ngồi, quỳ, nằm nơi kín đáo, cũng có thể đang khi làm việc hay bát phố… Bất cứ lúc nào và ở đâu, cũng có thể cầu nguyện được cả. Tuy nhiên, lời khuyên thiết thực nhất vẫn là “nên cầu nguyện ở nơi kín đáo, thanh vắng, hoặc nơi nhà nguyện, thánh đường”, cũng bởi vì chúng ta chưa phải là thánh, nên ở những nơi này chúng ta sẽ cảm thấy gần Chúa hơn, thân thiết với Chúa hơn, mặc dù Chúa ở khắp mọi nơi ("Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em : chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.” – Mt 6, 5-6).. Khi chúng ta đã toàn tâm toàn ý “tâm sự với Chúa” thì những cử điệu bên ngoài – nếu có – cũng phải xuất phát từ chính tâm linh của chúng ta; chớ không phải là a dua, bắt chước người này, người khác (bặm môi, méo miệng, nhăn mặt, chau mày, sùi sụt … cho ‘ra vẻ’).

Tấm gương cầu nguyện liền ngay trong thời hiện tại, tất yếu chỉ có thể là Mẹ Tê-rê-sa Calcutta. Ấy cũng bởi vì Mẹ đã nói: ”Tôi có dòng máu Albani, quốc tịch Ấn. Liên quan tới lòng tin tôi là nữ tu công giáo. Theo ơn gọi tôi thuộc thế giới, nhưng con tim tôi hoàn toàn thuộc Thánh Tâm Chúa Giê-su. Tiên vàn là biết nhìn thấy Chúa nơi tha nhân. Chúng ta không đi tìm Chúa nơi vùng đất xa xôi. Người không có ở đó đâu. Ngài đang ở với bạn. Chỉ cần giữ ngọn đèn tâm linh trong sạch và luôn cháy sáng thì sẽ luôn nhìn thấy Người . Hãy nhìn xem và hãy cầu nguyện, sẽ nhìn thấy Chúa thật dịu dàng và chan chứa tình yêu thương. Từ đó, biết nhìn thấy sự nghèo khó khốn cùng của anh chị em trong cảnh “Thầy đói mà chúng con đã không cho ăn; Thầy khát, chúng con đã không cho uống; Thầy là khách lạ, chúng con đã không tiếp rước; Thầy trần truồng, chúng con đã không cho áo mặc; Thầy đau yếu và bị cầm tù, chúng con đã không đến viếng thăm.” (Mt 25, 42-43).

Biết nhìn Chúa chính là “biết dán mắt nhìn chăm chú hơn lòng thương xót để chúng ta có thể trở thành một dấu chỉ thuyết phục hơn cho tác động của Chúa Cha trong cuộc sống của chúng ta…Với đôi mắt của chúng ta dán chặt vào Chúa Giê-su và ánh mắt xót thương của Ngài, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Sứ vụ của Chúa Giê-su được Chúa Cha trao phó là mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa trong sự viên mãn của tình yêu ấy. “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4: 8,16).” (Tông thư Dung Mạo Lòng Thương Xót “Misericordiae Vultus”, số 3-8). Còn “biết nhìn thấy Chúa nơi tha nhân để thấy được sự nghèo khó khốn cùng của anh chị em” tức là “chúng ta trông đợi những trải nghiệm của việc mở lòng mình ra với những người đang sống bên rìa ngoài cùng của xã hội: Chính cái xã hội hiện đại này tạo ra những vùng ngoại vi như thế.” (Tông thư MV, số 15)

Trên cơ sở đó, Mẹ kêu gọi: Hãy cầu nguyện để có được ân sủng của Chúa; hãy cầu nguyện để có thể hiểu Chúa Giê-su đã yêu thương chúng ta như thế nào, và để có thể yêu thương những kẻ khác giống như vậy; và hãy cầu nguyện, ngõ hầu chúng ta không ngăn cản công việc của Thiên Chúa. Để lời cầu nguyện có thể sinh hoa trái, cần phải đến từ con tim và phải chạm đến con tim của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện trọn hảo không hệ tại ở nhiều lời, nhưng hệ tại ở sự sốt sắng của ước muốn chạm tới con tim của Chúa Giêsu. Phương thức cầu nguyện của Mẹ là: 1- Cầu nguyện bằng con tim (cầu nguyện nội tâm): Để lời cầu nguyện có thể sinh hoa trái, cần phải đến từ con tim và phải chạm đến con tim của Thiên Chúa. Lời cầu nguyện trọn hảo không hệ tại ở nhiều lời, nhưng hệ tại ở sự sốt sắng của ước muốn chạm tới con tim của Chúa Giê-su. 2- Cầu nguyện trong thinh lặng ("Hãy dừng lại trong thinh lặng và chúng con sẽ nhận biết Ta là Thiên Chúa" – Tv 46, 11).

Mẹ đề ra bí quyết  “Cầu nguyện trong thinh lặng và biến lời cầu nguyện thành hành động bác ái cụ thể công khai” Mẹ lấy câu Thánh vịnh "Hãy dừng lại trong thinh lặng và chúng con sẽ nhận biết Ta là Thiên Chúa" (Tv 46, 11) làm châm ngôn vì Mẹ biết chắc chắn “Thiên Chúa là người bạn của sự thinh lặng”. Me dẫn chứng: Chúng ta hãy tôn thờ Chúa Giê-su trong tâm hồn chúng ta. Người đã sống thinh lặng trong thời gian 30 năm trong số 33 năm sống trên trần gian nầy. Người đã bắt đầu cuộc đời công khai bằng 40 ngày sống trong thinh lặng ở hoang địa. Người thường tách mình ra để qua suốt đêm trong thinh lặng, trên núi vắng. Người đã rao giảng với uy quyền, nhưng sống suốt cuộc đời trong thinh lặng. Chúng ta hãy tôn thờ Chúa Giê-su trong thinh lặng của Bí Tích Thánh Thể.

Sự thinh lặng cho chúng ta một cách thức mới để nhìn các sự vật. Chúng ta cần thinh lặng để thành công chạm đến các linh hồn. Ðiều thiết yếu không phải là điều chúng ta nói ra, nhưng là điều mà Thiên Chúa nói với chúng ta và qua chúng ta mà đến với người khác. Việc cầu nguyện nội tâm và sự chiêm niệm là sự đáp trả tình yêu thương của Thiên Chúa. Cầu nguyện và chiêm niệm không phát sinh từ những cố gắng của chúng ta để hành động, hay từ những lo lắng của chúng ta, nhưng từ kinh nghiệm sâu xa về tình yêu Chúa.

Đức Mẹ Maria có thể dạy chúng ta sống thinh lặng: Đức Mẹ dạy chúng ta biết làm sao để ghi giữ tất cả mọi sự trong tâm hồn, như Đức Mẹ đã làm ngày xưa, và xin Đức Mẹ dạy chúng ta biết cầu nguyện trong thinh lặng của con tim. Như Đức Mẹ Maria, chúng ta hãy ý thức về những nhu cầu của nguời nghèo, nghèo thiêng liêng hay nghèo vật chất, và chúng ta hãy quảng đại trao ban, như Đức Mẹ đã làm gương, trao ban tình thương và ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trước. Đức Mẹ Maria dạy chúng ta sống khiêm tốn: đầy ơn phước, nhưng như là người tôi tớ của Thiên Chúa, Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá Chúa, như một người trong chúng ta, một kẻ tội lỗi cần đến ơn cứu chuộc. Như Đức Mẹ, chúng ta chạm đến người sắp chết, người nghèo, người bị bỏ rơi, người bị chối từ, tùy theo ân sủng mà chúng ta đã lãnh nhận, và chúng ta đừng mắc cở và cũng đừng do dự làm những công việc khiêm tốn thấp hèn.

ĐTC Phan-xi-cô đã nhấn mạnh trong bài giảng tại Thánh lễ (-nt-): “Sứ mạng của Mẹ đến với những vùng ngoài rìa các thành thị và cuộc sống để lại cho chúng ta cả một chứng từ hùng hồn về Thiên Chúa đang ở bên những người nghèo khổ nhất. Hôm nay, tôi trao cho toàn thể anh chị em làm việc thiện nguyện một gương mặt có giá trị biểu tượng của nữ giới và của đời sống thánh hiến: mong anh chị em hãy nhận lấy mẫu gương sống thánh thiện của Mẹ! Tôi tin rằng, hẳn chúng ta cũng có chút khó khăn khi gọi Mẹ là “Thánh Tê-rê-sa”: sự thánh thiện của Mẹ quá gần gũi với chúng ta, quá dịu dàng và sinh nhiều hoa trái đến nỗi chúng ta vẫn cứ rất tự nhiên gọi Mẹ là “Mẹ Tê-rê-sa”. Ước gì con người không ngừng thực thi lòng thương xót này giúp chúng ta ngày càng hiểu rằng tiêu chí duy nhất cho những việc chúng ta làm là tình yêu nhưng không, không bị lệ thuộc vào mọi ý thức hệ và tất cả những trói buộc, để quảng đại trao cho mọi người không phân biệt ngôn ngữ, văn hoá, chủng tộc hoặc tôn giáo. Mẹ Tê-rê-sa vẫn thường nói: “Hẳn tôi không nói được ngôn ngữ của họ, nhưng tôi có nụ cười”. Chúng ta hãy mang nụ cười của Mẹ trong trái tim mình và trao nụ cười ấy cho những người mình gặp gỡ trong cuộc sống, nhất là những người đang chịu đau khổ. Nhờ đó, chúng ta sẽ mở ra những cơ hội tìm lại niềm vui và hy vọng cho nhiều anh chị em đang chán nản và cần được cảm thông, vỗ về.”

Trong bài giảng tại Thánh lễ phong Chân phước cho Mẹ Tê-rê-sa Calcutta (số 6), Thánh GH Gio-an Phao-lô II đã phát biểu: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con ân sủng của Chúa, chúng con hy vọng nơi Chúa!”. Như tác giả Thánh Vịnh, biết bao nhiều lần, trong những giây phút lẻ loi cô quạnh nội tâm, Mẹ Têrêsa cũng đã lập lại cùng Chúa của Mẹ rằng: “Lạy Chúa Trời con, con trông cậy nơi Chúa, con cậy trông nơi Ngài!” Không những thế, mỗi khi kết thúc giờ cầu nguyện hoặc trong công việc bác ái hàng ngày, Mẹ Tê-rê-sa Calcutta thường cầu xin: “Lạy Chúa, xin hãy làm cho con được sống thánh thiện theo như lòng Chúa mong ước, hiền lành và khiêm nhường. Amen.” Xin cùng hiệp ý với Mẹ trong sinh hoạt hàng ngày của một Ki-tô hữu chân chính. Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD

 Trở về
Các bài viết khác:
ĐỪNG XÉT ĐOÁN (09/05 21:34:17 PM)
BƯỚNG BỈNH (07/03 22:16:16 PM)
SỐNG ĐẸP (10/02 20:22:47 PM)