Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 25 tháng 9 năm 2017

 
(18/08/2017 20:00 PM)
Chia sẻ tin:
VÀI HƯỚNG DẪN CHO NGƯỜI LEGIO MARIÆ

Nói chuyện với Hội đồng Comitium tại giáo phận Phú Cường

https://lh3.googleusercontent.com/BfASSWVccgnoVlloQvmAWLj07lRSRre5nLz95He4F0Ig5-3tvkdUm7ezx-6yeQjVF-GrXNVTLIlPut5N5ugv1GA9gZ4JkNSrPOKHZDHj91Ii2cNpGk6CixgHvGqRtmzaeiB7Lelr4FYQB7OVwgSITCQ8rko--DqbsmU1xzml9zEOrY3CX_1YhLg5ON2XfxQLVW4AkqZIBtNJ_vF_MGdQTFN13x9kzGW0tbYHtHR877jk3swuG9zlJ-_yXIFaPITrBMXeii9Wy00lYZ4Q2z6oCRIdYl2Ae7nUTzihM2j-L9kIhVCNyM0DJyQNQetSaeiXMvOdRz35aAmTEFLoTCEGGOWWi1wgMaCymAxZ0L70JeYVEe0xyX1bXqm8M8zv8q3T5VBWy_c3vf263zbYjyp6x8L_CQrOjlb3rvk-5DXZJgPHi84TjcfLZNpOguCLMBSuRg2yxFiRcmYOTh9N8tYBVbATcRJxZ6Y5HB2WtPxErXeU7yQxQXoJUJprDyFb6ux41Vzq4Ev_t8V41fUr3a5JfqkrUxUoB4oageae7mnjrcfsUYzCiohdvLLev1iieStXXm7AgyMqHFsvvTqDIldf5N8ZGYXHHHe9WNbKWg9OR8kSf-KXh75QbBhJIkfJaOvdax0y1T4Zeqw0XfkjAvjEy_vYELATaNmCD31TzgxoMg98e6s=w640-h425-no

I. NGƯỜI LEGIO MARIAE VỚI ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC.

Người Legio Mariæ là tông đồ của Chúa Kitô, hoạt động dưới sự trợ lực của Đức Mẹ. Họ cũng được gọi là Đạo binh của Đức Mẹ, luôn hướng về Chúa, tìm sáng Danh Chúa.
Vì thế, người Legio Mariæ phải bảo đảm cho đời sống tông đồ của mình bằng quy hướng về Chúa Kitô.
Có mấy đề nghị để đặt nền tảng tông đồ:

1. Sống thánh lễ và tham dự vào hy tế Thánh Thể.

Thủ Bản chương 6, số lề 85 trang 62: “Legio Mariæ khẩn thiết van xin hội viên năng dự lễ - nếu tiện, xin dự lễ hàng ngày – và khi dự lễ, hãy chịu lễ” (TB 8,85).

“Hoạt động có hăng say đến đâu cũng vô ít một khi ta quên mục đích chính là làm cho các tâm hồn yêu mến Thánh Thể” (TB 8,91).

“Hội viên phải sử dụng hết mọi cách để mọi người hiểu biết, yêu mến, chừa tội, bỏ tính ươn hèn để năng đến nhận phép Thánh Thể” (TB 8,95).



2. Thường xuyên đọc và suy niệm Lời Chúa.
 
“Qua lời Kinh Thánh đọc trong Hội Thánh, chính Thiên Chúa nói với dân Người và Đức Kitô hiện diện trong lời của mình, loan báo Phúc Âm” (TB 8,87).
 
3. Siêng năng lần chuỗi và noi gương đời sống Đức Mẹ.
 
- Chuỗi Mân Côi là tóm gọn Tin Mừng, nhưng cũng là diễn lại ngắn gọn và đầy đủ hành trình dương thế của Chúa Kitô, có Đức Mẹ cùng đồng hành, cùng hiện diện bên cạnh.

- Lần chuỗi Mân Côi, ta học nơi Đức Mẹ sự khiêm tốn, bác ái, tinh tế, xin vâng thánh ý Chúa cách mau lẹ…

II. SỐNG THEO KỶ LUẬT CỦA HỘI ĐOÀN.
 

Không có bất cứ một tập thể nào, khi mọi người làm việc bên cạnh nhau, lại không có những quy định, những luật lệ. Legio Mariæ cũng không hề khác.

Luật lệ của hội đoàn mà mình tham gia, vừa cần thiết để gìn giữ mọi trật tự, mọi hoạt động, mọi con người… trong hội đoàn đó, vừa để một hội đoàn là chính hội đoàn, không lẫn lộn, không pha trộn với bất cứ tập thể nào khác…

Luật lệ còn là điểm tựa cần thiết, để một hội đoàn, sau khi được thành lập, có đường lối, có linh đạo riêng, có thể đứng vững cách độc lập…

Xin gợi ý mấy điểm để ôn lại những gì chúng ta đã từng biết, nhưng theo thời gian,có thể bị nới lỏng, bị quên sót, bị giảm bớt chú ý.

1. Vâng lời.
 
“Những ai đem lòng quảng đại để cương quyết vâng lời, sẽ lập nên công nghiệp lớn: vì phải hi sinh, đức vâng lời giống như tử đạo” (thánh Inhaxio Loyola – TB 29,285).

- Tuân theo Giáo luật của Hội Thánh.
- Tuân phục vị Linh giám và cấp trên.
- Lắng nghe nhau. Nếu cần, góp ý trong tình huynh đệ.

2. Biết người – biết ta.
 
Người Legio Mariæ cần biết rằng, họ không là người duy nhất truyền giáo, không là người duy nhất ham muốn Danh Chúa rạng sáng. Bên cạnh họ, bên cạnh hội đoàn Legio Mariæ, còn biết bao nhiêu anh chị em, còn biết bao nhiêu tập thể cùng tham gia để hoạt động nhân danh Chúa, hoạt động vì Nước Chúa.

Vì thế, người Legio Mariæ phải luôn đặt mình trong nhiều tương quan khác nhau. Chẳng hạn:

- Cá nhân với cá nhân trongmột Præsidium hoặc trong cùng hội đoàn.
- Cá nhân với những người trong giáo xứ và những người đồng đạo.
- Legio Mariæ với các hội đoàn, nhóm, giới khác.
- Legio Mariæ với gia đình mình và cả lương dân.

3. Legio Mariæ phải tuyệt đối bảo mật.
 
“Hội viên phải tuyệt đối giữ kín về tất cả những gì đã nghe khi hội họp hoặc lúc đi công tác. Chỉ hội viên mới có thể nghe, được tín thác, nếu nói ra ngoài là thất tín, không thể tha thứ” (TB 33,335).
 
Chúng ta cần ghi nhớ lời mà thánh Phaolô căn dặn Timôthê: “Hãy giữ kín những gì đã trao phó cho con” (1 Tm 6,20).

4. Những nguyên tắc vật chất.
 
Để tránh mọi phiền phức, Legio Mariæ không cho phép chúng ta liên hệ bất cứ điều gì có liên quan đến vật chất, như:

- Không được viện trợ, cứu trợ. Người tông đồ của Chúa ra đi trong phó thác mọi vấn đề, từ chính mình đến người mà mình được sai đến.

Cần tránh mọi lạm dụng, mọi vận động, mọi hiểu lầm là phải có vật chất mới đưa tới đức tin…

Legio Mariæ không được có bất cứ liên hệ nào đến “xin” và cho” vật chất. Chúng ta hãy sống bác ái bằng cầu nguyện, đồng cảm, thông cảm, sớt chi tinh thần, giúp đỡ bằng hy sinh, bằng đưa bàn tay và thân mình để anh chị em nương nhờ. Đây không chỉ là nghĩa cử hy sinh mà còn là hy sinh trong sự tận tụy. Nó đẹp hơn nhiều, so với việc cho đi vật chất.

“Curia phải hết sức đề phòng, đừng cho các Præsidia nhún tay vào việc phân phát viện trợ vật chất; vì như thế là làm hư công tác của Legio Mariæ” (TB 28,281.15).

- Không được nhận bổng lộc hay viện trợ.

- Không được nhân danh hội đoàn mình để vận động vật chất (ví dụ: chúc Tết nhận lì xì, tổ chức bữa ăn với danh nghĩa bổn mạng để nhận một chút lợi…).

- Một hội viên muốn tặng, ủng hộ quà (ví dụ: Ủng hộ Præsidium của mình một chuyến hành hương, du lịch, công tác tông đồ đi xa…), theo ý kiến riêng tôi, phải kín đáo, bằng cách thông qua Cha Linh giám (ngài sẽ là người quyết định nhận hay không nhận, nhận bằng cách nào…). Ngài có nhiệm vụ giữ hoàn toàn bí mật, để các hội viên khác không thể biết. Và như vậy, mọi hội viên ngang bằng nhau. Đừng vì một chút vật chất mà kẻ cho thì “đặc quyền, đặc lợi”, còn kẻ nhận thì không dám cóp ý kiến gì với người đã cho…

Còn người ủng hộ, dù có ủng hộ trong thầm lặng, hãy hiến dâng lên Chúa, hãy chấp nhận sự “vô danh”, và khiêm nhường để không gây ra bất cứ khó xử nào trong hội đoàn của mình. Hãy tin rằng, khi mình “cho” nhưng không, Chúa sẽ trả lại cho mình cách nhưng không.

- Loại trừ mọi khoản thu ngoài quy định của Thủ Bản (thường những khoản “phụ thu” này được núp dưới danh nghĩa là “quỹ đen”).

III. KẾT LUẬN.
 
- Chúng ta hãy đặt Chúa là trung tâm và gia nghiệp của cả đời mình. Chỉ một mình Chúa mới co thể chi phối mọi hoạt động, mọi suy nghĩ, mọi lời nói, mọi tương quan của mình.

- Chúng ta hãy ngắm nhìn cuộc đời và mẫu gương sống thánh ý Chúa của Đức Mẹ, mà tập tành sống đời trọn lành như Đức Mẹ.

- Cảm ơn anh chị em Legio Mariæ vẫn luôn nỗ lực để xây dựng Nước Chúa, cộng tác cùng với các Linh mục chúng tôi thực thi công tác tông đồ, làm cánh tay nối dài của Chúa Kitô.

Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG
P. Linh giám HĐ. Comitium Phú Cường

Legio Mariae & đời sống nội tâm
 
Lm. Giu-se Trương Đình Hiền
Linh giám HĐ. Comitium Qui Nhơn


http://img.aws.la-croix.com/2017/05/11/1100846466/Francois-devant-statue-Notre-Dame-Fatima-Vatican-13-2015_1_729_485.jpg

Có người đã nhận xét rằng: “Thế giới đang bệnh hoạn vì thiếu tình yêu. Thiếu tình yêu vì chúng ta không cầu nguyện đủ”. [1]
 
1. Có thật sự chúng ta đang sống trong một “thế giới đang bệnh hoạn?”
 
a. Một thế gới đang quay cuồng và biến đổi từng giờ, từng ngày:
 
Tình cờ đọc thấy một trang facebook với nick name: “cuộc sống ồn ào, xã hội giả tạo”. Trên đó có nhiều bài viết, cảm nhận, phê bình về cuộc sống, về xã hội, về con người. Trong số đó có đọc thấy mấy câu thơ:
Tôi là gì...?

Giữa bộn bề những thứ xung quanh...
Những thứ qua nhanh còn gì ở lại...
Những thứ phôi phai cớ sao còn mãi...
Vội vã hỏi đời... Buồn lắm bon chen....

Chỉ có bốn câu thơ thôi, nhưng chúng ta đọc thấy nào “bộn bề”, “qua nhanh”, “phôi phai”, “vội vã”, “bon chen”! Phải chăng điều đó đã phần nào phản ảnh chính cái xã hội và tâm trạng của con người thời nay, một xã hội được mệnh danh là “công nghiệp hóa”, một tâm trạng cũng đang bị “xã hội hóa”!

Từ đường phố từng căn hộ, âm thanh, hình ảnh, bụi bặm… “phủ sóng” khắp nơi. Các phương tiện truyền thông hiện đại tha hồ dẫn dắt con người phiêu diêu với những không gian ảo, với các con đường kết nối không biên giới, với đủ thứ “thực đơn” ê hề của công cụ Google như những món ăn ngập tràn thừa mứa trong những cửa hàng tự chọn buffet cao cấp..!

Cả những không gian đáng lẽ được bao trùm bầu khí của yên ắng, trân trọng, nội tâm…như không gian tang lễ thì cũng bị tràn ngập của xô đẩy, chen lấn, giành giật…của đám cuồng fan muốn được chụp hình, nắm tay, bắt chuyện với các ngôi sao showbiz…! [2]

Đó là xã hội của chúng ta hôm nay, là môi trường phải đón nhận, phải dấn thân, phải làm chứng.

So với thời Chúa Giê-su chắc là khác xa một trời một vực. Nhưng cái ồn ào, bon chen của một xã hội gồm những con người thế tục, bon chen…thì lúc nào cũng thế thôi. Chính Đức Ki-tô cũng đã phải tìm vào hoang mạc cả 40 đêm ngày để ăn chay và cầu nguyện; và Ngài cũng đã mời gọi các môn sinh: “hãy tìm nơi thanh vắng để nghỉ ngơi” kia mà.

b/. Có cần không một “hoang mạc” cuộc đời, một cõi nội tâm?
 
Để trả lời câu hỏi, thiết tưởng cần dừng lại để hiểu khái niệm “vào sa mạc” theo cách dẫn giải của cha giáo Giu-se Phan Tấn Thành, O.P. [3] (Xin trích):

Ngày nay các Ki-tô hữu vào sa mạc để bắt chước Đức Giêsu phải không?
 

Đúng vậy, các Ki-tô hữu vào sa mạc để bắt chước Chúa Giê-su. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, chúng ta đừng nên hiểu sa mạc là bãi cát, nhưng nên hiểu theo nghĩa của khung cảnh địa lý và tinh thần.

Sa mạc là biểu tượng cho khung cảnh thanh vắng yên tĩnh giúp chúng ta dễ nghe tiếng Chúa. Sa mạc cũng là biểu tượng của nơi hoang dã, nghĩa là thiếu các thứ tiện nghi tối thiểu. Trong tình cảnh đó, con người ra trước mặt Chúa với hai bàn tay trắng, tập sống phó thác tin tưởng vào Thiên Chúa chứ không ỷ vào các thế lực trần gian (tiền tài, của cải, địa vị, danh vọng, khoái lạc,…). Đặc biệt, theo gương Chúa Giê-su, người tín hữu tìm cách khám phá tình thương của Thiên Chúa qua giao ước, và muốn sống trung thành với giao ước đó bất chấp những thử thách, giống như Chúa Giê-su sẵn sàng đi vào con đường tùng phục khiêm tốn để phục vụ Nước Thiên Chúa, thay vì con đường hiển hách.

Nhưng sa mạc ở đâu?
 
Có người hiểu sa mạc theo nghĩa vật lý, tuy không hẳn là bãi cát. Họ đi tìm nơi thinh lặng xa cách nơi huyên náo. Không thiếu những người đã dành mỗi tháng một ngày để “vào sa mạc” theo nghĩa này.

Trong các thế kỷ đầu tiên của Ki-tô giáo, nhiều tín hữu vào sa mạc không phải chỉ một ngày, nhưng họ ở lại đó luôn. Đó là nguồn gốc của nếp sống ẩn sĩ. Nhưng về sau, khi đời sống tu trì phát triển, người ta thấy có những Dòng tu được thiết lập ngay giữa thành phố, nhưng ngăn cách với bên ngoài bằng tường cao lũy kín.

Ngày nay, “khung cảnh địa lý” không quan trọng cho bằng “khung cảnh tinh thần”. Điều khó nhất mà chúng ta phải thoát ly không phải là những tiếng động bên ngoài, cho bằng những tiếng động bên trong tâm hồn, những đòi hỏi muốn đặt “cái Tôi” làm trung tâm vũ trụ. Bao lâu còn mang não trạng đó, thì cho dù đi hoang đảo xa vắng, ta chỉ gặp thấy cái Tôi, chứ không thấy tha nhân mà cũng chẳng gặp Chúa! (Hết trích).

2. Legio Mariae và những đòi hỏi sống nội tâm:
 
Từ khái niệm “sa mạc”, một diễn ngữ của “đời sống nội tâm” mang chiều kích phổ quát trong đời sống đức tin của Dân Chúa, người hội viên Legio Mariæ còn được gọi mời cách đặc biệt hơn sống chiều kích “nội tâm”, “thiêng liêng” vì đó là con đường chính yếu để nên thánh và hoạt động tông đồ mà gần như hiện diện trong toàn bộ Thủ Bản (Xin trích):

* Chương VI: Bổn phận hội viên Legio Mariae đối với Đức Ma-ri-a:

“Khi dự lễ, chịu lễ, Chầu Mình Thánh, lần hạt, ngắm Đàng Thánh giá hay làm các việc đạo đức khác, tâm hồn người Legio Mariæ phải hòa mình với Đức Ma-ri-a, và suy ngắm mầu nhiệm Cứu Chuộc, mầu nhiệm Đức Mẹ đã sống cùng Chúa Cứu Thế với trọn niềm tin yêu, và giữ một vai trò trọng yếu” (TB 6,35).
 
* Chương 8: Hội viên với Thánh Thể:
 
- “Vậy ta phải nhờ đến Thánh lễ, nếu thực tình muốn hưởng đầy đủ công ơn Cứu Chuộc cho mình và cho anh em. Xét vì phương tiện và hoàn cảnh của các hội viên khác nhau, nên Legio Mariæ không buộc dự Thánh lễ. Tuy nhiên, vì lo lắng cho đời tư và hoạt động của hội viên, Legio Mariæ khẩn thiết va xin hội viên năng dự Lễ - nếu tiện, xin dự Lễ hàng ngày – và khi dự Lễ hãy Chịu Lễ” (TB 8,85).

- Tất cả chủ đích của Legio Mariæ là làm cho hội viên của mình được nên Thánh, để rồi họ truyền sự thánh thiện của mình cho anh em trong Nhiệm Thể. Phép Thánh Thể là nguồn gốc các ơn, là bí quyết đích thực của đường lối Legio Mariæ. Hoạt động có hăng say đến đâu cũng vô ích, một khi ta quên mục đích chính là làm cho các tâm hồn yêu mến Phép Thánh Thể. Vì đó là đúng kế hoạch của Chúa khi giáng trần, la ban Mình cho các tâm hồn, để họ cùng Người trở nên một. Thánh Thể là phương thế chính để Chúa thông ban Mình Thánh cho chúng ta. Chúa Ki-tô nói: “Ta là Bánh trường sinh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ sống mãi, Bánh Ta ban là Thịt Ta để nuôi sống thế gian” (Ga 6,51TB 8,91).

* Chương 11: Kế hoạch của Legio Mariae:
 
Mỗi tuần Præsidium nhóm họp trong bầu không khí siêu nhiên do sự cầu nguyện tạo nên, do việc đạo đức, do tình anh em thân mật. Trong buổi họp các hội viên phúc trình công việc tông đồ đã làm và được giao công tác mới. Cuộc họp hàng tuần là trái tim dồn dòng máu vào các động mạch. Nó là nguồn phát ánh sáng và nghị lực, là kho tàng vô tận cung cấp cho mọi nhu cầu. Đó là hành động tập đoàn, có Chúa Cứu Thế tham dự, theo lời Người hứa, mặc dầu ta không trông thấy” (TB 11,145).

* Chương 16: Ngành phụ tá:
 
- “Nghĩa sĩ (1) là bậc cao hơn hội viên thường, vì ngoài nhiệm vụ hội viên hoạt động tông đồ, họ còn phải làm thêm các việc sau:

Mỗi ngày nguyện hết các kinh trong bản Tessera.

Dâng Lễ và Chịu Lễ hàng ngày. Tuy nhiên đừng sợ vì không thể dâng lễ hay rước lễ mỗi ngày mà từ chối làm bậc Nghĩa sĩ. Không thể làm điều hòa hàng ngày như vậy. Do đó nếu trong tuần ta thiếu sót một hay hai lần thì cứ yên tâm mà ghi danh vào bậc Nghĩa sĩ.

Mỗi ngày nguyện kinh Nhật tụng (TB 16,173).

 - “Chúng ta thấy rằng, làm Tán trợ, là vào hàng ngũ cầu nguyện, cũng có sức mạnh làm phấn khởi tinh thần như Hoạt động viên. Làm Tán trợ, họ vui vẻ lần chuỗi hàng ngày và các kinh khác theo luật, dù trước kia anh chị em không bao giờ nghĩ đến” (TB 16,185).

* Chương 19: Hội viên với buổi họp:
 
- “Cách cầu nguyện: Một ít người nóng tính, ngay việc nguyện kinh cũng vội vàng. Như thế là lôi cuốn tất cả Præsidium làm điều sai là cầu nguyện thiếu lòng cung kính. Thực ra, ai cũng dễ mắc sai sót này nhiều hay ít. Hình như ta coi thường bổn phận cầu nguyện với Đức Ma-ri-a đang thực sự hiện diện, chớ không phải chỉ có tượng ảnh của Người mà thôi” (TB 19,228).

- “Cầu nguyện và buổi họp là một: Thỉnh thoảng người ta đề nghị nên lần chuỗi trước Mình Thánh, rồi sau đó hội viên trở về phòng họp. Không thể chấp nhận đề nghị này, vì sự thống nhất của buổi họp là điều cốt yếu của Legio Mariæ. Vì cầu nguyện trong buổi họp, nên mọi việc đều  đượm vẻ đặc biệt siêu nhiên. Kết quả tốt đẹp là chúng ta thêm anh dũng và cố gắng. Ảnh hưởng này sẽ không còn nếu chúng ta cầu nguyện ở nơi khác.

Thay đổi như vậy là  thay đổi cả tính chất của buổi họp, và do đó làm đảo lộn cả hệ thống mà buổi họp là gốc. Dù sửa đổi có thêm nhiều ơn ích, không còn là Legio Mariæ nữa. Như thế, không cần nói thêm, bỏ lần chuỗi hay đổi kinh nào khác sẽ không thể chấp nhận, bất cứ trong trường hợp nào. Hơi thở cần cho thân xác thế nào, chuỗi Môi Khôi cần cho buổi họp Legio như thế” (TB 19,229).

- “Việc đạo đức chung trong nhà thờ với buổi họp: Cùng một lý do như trên, Præsidium nhận thấy không thể bỏ qua việc đạo đức chung trong nhà thờ hay nơi khác; trong đó có việc lần chuỗi, trong một ngày trùng với ngày họp thì vẫn phải cầu nguyện đầy đủ ở phiên họp” (TB 19,230).

Các chương từ 22-26: Kinh nguyện của Legio

* Chương 33: Nhiệm vụ căn bản:

- “Hội viên phải sốt sắng cầu nguyện cũng như siêng năng hoạt động.Hàng ngày hội viên hoạt động chỉ phải đọc phần kinh Catena, nhưng đã từ lâu Legio Mariæ xin ta đọc trong ngày trọn bản kinh Tessera. Nếu luật buộc Tán trợ đọc hết kinh Tessera mà hội viên hoạt động về mặt kinh nguyện lại để thua Tán trợ sao, thực đáng trách. Thực ra Tán trợ không có hoạt động tích cực. Tuy nhiên hội viên hoạt động nào làm việc mà không cầu nguyện, sẽ phục vụ Đức Mẹ thua người Tán trợ biết chuyên cầu nguyện. Làm vậy tức đảo ngược ý định Legio Mariæ, vì khi tấn công địch, Hoạt động viên là lưỡi, còn Tán trợ chỉ là cán thôi” (TB 33,359).

- “Đời sống nội tâm của Hội viên Legio Mariæ.Thánh Phao-lô Tông đồ nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20). Đời sống nội tâm có nghĩa là tư tưởng, ước muốn, tình cảm của mỗi người chúng ta quy hướng về Chúa. Mẫu gương sáng chói chính là Đức Ma-ri-a Diễm Phúc. Mẹ không ngừng tăng triển trên đường thánh thiện, vì sự tiến bộ thiêng liêng trổi vượt hơn hết là tiến bộ trong đức Ái hoặc lòng Mến, mà đức Ái phát triển nơi Đức Maria trong suốt cuộc đời Người.

Tất cả tín hữu ở bất kỳ hoàn cảnh hay lối sống nào đều được mời gọi đến sự sung mãn của cuộc đời Ki-tô hữu và đến mức trọn hảo về Đức Ái... Mời gọi mọi tín hữu và buộc họ đạt đến sự thánh thiện, trọn lành theo bậc sống riêng của mình (LG 40,42). Sự thánh thiện là một mục đích thực tiễn. Mọi sự thánh thiện đều hệ tại ở lòng yêu mến Chúa và lòng yêu mến Chúa hệ tại ở việc thực hiện ý muốn của Người” (Thánh Alphongsô Ligôriô – TB 33,362).

* Chương 37: Khuyến dụ công tác:
 
“Khuyến khích việc dâng lễ hàng ngày và sùng kính Thánh Thể.Hàng ngày, rất mong các tín hữu đến dâng Lễ sốt sắng và Rước Lễ, rồi cảm tạ đầy đủ để đáp lại hồng ân của Chúa Giê-su Ki-tô. Đây là những lời cần ghi nhớ: Chúa Giê-su Kitô và Hội Thánh mong muốn mọi Ki-tô hữu đến dự Tiệc Thánh mỗi ngày. Nền tảng của ước muốn này là họ phải kết hợp với Chúa qua Bí tích để Chúa thêm sức mạnh giúp ta kiềm chế nhục dục, rửa sạch các tội nhẹ hằng ngày, và đề phòng các tội nặng mà con người yếu đuối dễ mắc phải (AAS 38-(1905) 401). Các luật phụng vụ quy định Bí tích Thánh Thể phải được gìn giữ trong các nhà thờ với lòng tôn kính lớn lao nhất và tại một vị trí đặc biệt nhất. Tín hữu không thể không thỉnh thoảng viếng thăm Thánh Thể. Mỗi lần viếng như thế là một biểu lộ của sự cảm tạ, một bảo chứng tình yêu, một sự tuân giữ việc thờ phượng đối với Chúa Giê-su hiện diện trong Bí tích Thánh Thể” (MF 66 TB 37,435)

(Hết trích)
 
3. Những “chất liệu” nền tảng để xây dựng cuộc sống nội tâm:

Thủ Bản đề nghị 3 con đường: Cầu nguyện, hãm mình, các bí tích [4].
 
a. Cầu nguyện:

- Qua Phụng vụ, đặc biệt Thánh lễ.

- Các hình thức cầu nguyện cá nhân: Suy niệm, xét mình, tĩnh tâm, viếng Thánh Thể và những việc tôn kính đặc biệt Đức Trinh nữ Ma-ri-a Rất Thánh: Chuỗi Mân Côi.

- Đọc Sách thiêng liêng: ưu tiên việc đọc Lời Chúa (Tân ước), Hạnh các Thánh.

- Tĩnh tâm hàng năm.

b. Hãm mình và quên mình:

- Từ bỏ cái tôi để bước theo Chúa Ki-tô.

- Áp dụng kỷ luật bản thân.

- Chu toàn các quy định và đề nghị của Hội Thánh (đặc biệt qua các mùa, ngày sám hối: Mùa Chay, Thứ Sáu…)

- Đón nhận những khổ đau, vất vả, bệnh hoạn… với tình yêu mến.

- Tiết chế giác quan, kiểm soát nội quan, trí nhớ, trí tưởng… lướt thắng các cám dỗ lười biếng, hưởng thụ…

- Chia sẻ, giúp đỡ bằng tình bạn chân thành, cư xử tế nhị với tha nhân, bạn bè.

- Tâm tình đền tạ tích cực cho mình và cho anh em.

c. Bí tích:
 
- Sống tích cực các Bí tích Khai Tâm Ki-tô giáo: Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể.
- Thường xuyên đến với Bí tích Giao hòa.

Việc cứu rỗi các linh hồn (việc tông đồ) chỉ hiện thực được khi chính chúng ta cũng được biến đổi trong Đức Ki-tô: “Tóm lại, việc cứu rỗi và thánh hóa các linh hồn cũng như việc biến đổi thế gian chỉ xảy ra như là kết quả của đời sống Đức Ki-tô nơi các linh hồn. Thực tế, đây là vấn đề quan trọng nhất” (TB 33,362).

4. Học hỏi thêm: Đức Ki-tô và đời sống nội tâm
 
a/. Đức Ki-tô và Lời Chúa:
Cuộc hành trình đức tin của người Kitô hữu (trong đó có mỗi người hội viên Legio Mariæ chúng ta) mỗi ngày phải chăng cũng là một cuộc “trường hành khắc nghiệt của hoang mạc nóng cháy” luôn đòi hỏi khách lữ hành: muốn sống, muốn tồn tại để tới đích thì chỉ có một chọn lựa duy nhất đó chính là chiến thắng. Và hành trang bảo đảm cho cuộc chiến thắng thường xuyên và cuối cùng đó chính là sức mạnh của Lời Chúa. Bởi vì, khi đối diện với mọi cơn cám dỗ, Chúa Giê-su đã chỉ dùng một “đòn quyết định duy nhất”: “Đã có có lời chép rằng”. Không chọn một thứ vũ khí nào khác, Đức Ki-tô dựa hẳn vào Lời Chúa. Bởi vì Ngài xác tín rằng: “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn bởi Lời Chúa” (Mt 4,1-11).

Chắc chắn, trong suốt 30 năm sống đời ẩn dật ở Na-da-rét, Chúa Giê-su đã được tao luyện trong “trường dạy Lời Chúa” của Đức Mẹ Ma-ri-a và Thánh Cả Giu-se, những “Người Công Chính” đã luôn luôn đặt cuộc đời dưới ánh sáng và sự chỉ dạy của Lời Chúa, luôn “tin vào mọi điều Chúa phán” (Lc 1,45) và “suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,51).

Chính vì thế, chúng ta không lấy làm lạ, khi một thiếu nhi con nhà dân giã lại có thể đàm luận tay đôi với các bậc thầy Do-thái (x. Lc 2,46-47), hay chàng thợ mộc đến từ Na-da-rét lại có thể thông thạo những lời dạy cơ bản của Torah hay giáo huấn của các ngôn sứ, đến nỗi đã làm cho bè Xa-đốc phải câm miệng, và phái Pha-ri-siêu phải cúi đầu (x. Mt 22,34-40).

Và rồi, chúng ta cũng thấy đó: từ những lời giảng đầu tiên với “bản Hiến Chương Nước Trời” (x. Mt 5-7) cho đến những lời thì thầm trước khi trút hơi thở cuối cùng trên đồi Can-vê (x. Mt 27,46), Lời Chúa luôn ở trong tim và trên môi miệng của Chúa Giê-su.

b/. Đức Kitô cầu nguyện và chiêm ngưỡng
 
Có một người thưa với Mẹ Tê-rê-sa Calcutta: “Thưa Mẹ,  Mẹ đã yêu thương đám quần chúng mà người khác xem họ như những đống rác rưởi của nhân loại. Con muốn biết nhờ bí quyết nào mà Mẹ có thể yêu thương được như thế?”. Mẹ từ tốn trả lời: “Bí quyết của tôi thật giản đơn: Tôi cầu nguyện”.
 
Quả thật nếu chúng ta chưa cầu nguyện đủ, hoặc chúng ta chưa dám chọn “cầu nguyện”, như Mẹ Tê-rê-sa, làm bí quyết để yêu thương con người, yêu thương nhau, thì thật là thích hợp khi chúng ta cùng chiêm ngắm ĐỨC KI-TÔ, CON NGƯỜI CẦU NGUYỆN.

b1. Đức Ki-tô cầu nguyện không ngừng.
 
Trong những ngày ấy, Chúa Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12). Qua những chỉ dẫn của Tin mừng, chúng ta gặp một Đức Ki-tô có một đời sống cầu nguyện sâu xa, liên lỉ.

- Từ sáng sớm đến chiều tối, Ngài đắm mình trong cầu nguyện với Chúa Cha (Mt 14,23).
- Người cầu nguyện một mình trong nơi thanh vắng (Lc 9,18).
- Người cầu nguyện ngay cả lúc người ta đang tìm Ngài (Mc 1,37).
- Người cầu nguyện trong những lúc hệ trọng liên quan đến sứ vụ cứu thế như:

*  Khi lãnh phép rửa của Gio-an (Lc 3,21).
*  Khi vào hoang mạc 40 đêm ngày chuẩn bị cho giai đoạn công khai của sứ vụ cứu thế (Mt 4,7).
*  Khi chọn nhóm Mười Hai làm Tông đồ (Lc 6,12).
*  Khi hiển dung trên núi Ta-bo (Lc 9,29).
*  Trước khi chịu khổ nạn: Lời nguyện tế hiến; Lời nguyện trong Vườn Cây Dầu (Lc 22,42).
* Khi bị treo trên Thập giá cho đến chết (Lc 23,34-46).

b2. Nội dung cốt yếu trong lời cầu nguyện của Chúa Giê-su.
 
- Tiếng “ABBA” (Cha ơi, Ba ơi) thân thương:

Chúng ta đừng quên rằng: dân Ít-ra-en cũng cầu nguyện với Thiên Chúa bằng tiếng “ABBA”. Tuy nhiên, trong tiếng “abba” đó vẫn mang chiều kích “kính nhi viển chi”, xa xôi, cách biệt, chung chung. Thiên Chúa là “Cha chung” của mọi người, của cả dân tộc Ít-ra-en, của một cộng đồng... Chỉ với Đức Ki-tô, trong Đức Ki-tô và trên môi miệng Đức Ki-tô, tiếng “Abba” mới vang lên trọn vẹn ý nghĩa của tình thân mật, gần gũi, của mối thâm tình Cha-Con, của tương quan liên vị Phụ-Tử.

Chính Đức Ki-tô mới là “Người Con chí ái của Chúa Cha” mà Ít-ra-en  mới chỉ là hình bóng.

- “Cha ơi, con tạ ơn Cha, vì Cha đã nhậm lời con” (Ga 11,41).
- “Cha ơi, giờ đã đến, xin hãy tôn vinh con Cha, ngõ hầu con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17).
- “Cha ơi, hãy cứu con khỏi giờ nầy, nhưng chính vì giờ nầy mà con đã đến” (Ga 12,17).
- “Cha ơi, xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha” (Lc 22,42).

-Trong tiếng “CON” của Đức Ki-tô có cả nhân loại:
 
Điểm độc đáo và cũng là khúc quanh quan trọng, tuyệt đối nơi lời nguyện của Đức Ki-tô đó là: trong tiếng “CON” mà Ngài thưa với Chúa Cha có cả nhân loại. Vâng, qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, Đức Ki-tô đã qui tụ tất cả nhân loại trong Ngài để đem về cho Chúa Cha. Ngài đã kéo mọi sự lên cùng với Ngài. (x. Ga 12,32). Nhờ sống trọn vẹn ý nghĩa tình Con đối với Cha trong sự vâng phục thánh ý, Đức Ki-tô đã đem nhân loại vào sự sống vĩnh cửu.

“Khi còn sống kiếp phàm nhân, Chúa Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết.... và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5,7.9-10).

Như vậy, cho dù ở góc cạnh nào, theo cách thế nào, với phương pháp nào mặc lòng, thì chiều kích căn bản của việc cầu nguyện vẫn là hướng về Thiên Chúa, gặp gỡ thân mật với Thiên Chúa, ngỏ lời cùng Thiên Chúa, với trái tim và đôi tay ôm trọn anh chị em đồng loại.

Đó chính là cung cách mà Đức Ki-tô đã thực hiện và để lại cho chúng ta như  mẫu gương, như chứng từ, như lời dạy căn bản. Đó cũng chính là điều mà bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau của cộng đoàn Dân Chúa, từ những tháng năm mịt mờ xa xôi của cựu ước cho đến mãi hôm nay, vẫn không ngừng thực hiện, như lời của Thánh Tô-ma A-qui-nô:

Bao lâu người ta qui hướng về Chúa, bấy lâu người ta cầu nguyện”.

Hay như câu định nghĩa đơn sơ, thanh thoát của thánh nữ Tiến sĩ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su:

Đối với em, cầu nguyện là cái chớp cánh tình yêu, là ánh mắt đơn sơ hướng lên trời cao, là tiếng kêu của lòng biết ơn và của con tim giữa cơn thử thách cũng như giữa niềm hân hoan! Sau cùng, cầu nguyện là cái gì lớn lao, siêu vời, làm triển nở tâm hồn và kết hợp em với Chúa Giê-su”.

Trong khi đó, Mẹ Tê-rê-sa Calcutta đã nói với chúng ta những lời đầy xác tín:
 
“Chúng ta hãy cầu nguyện như chúng ta cần hít thở. Hãy yêu mến cầu nguyện, hãy cảm thấy nhu cầu cầu nguyện trong ngày, và hãy cố gắng mà cầu nguyện. Tôi coi công việc của tôi như một lời cầu nguyện”.

Sau cùng, nhận xét của Chúa Giê-su dành cho cô Ma-ri-a Bê-ta-ni-a mãi mãi là “thước đo”, là kim chỉ nam cho đời sống nội tâm của chúng ta trước bao nhiêu hoạt động (và cả “cám dỗ” khác) trong hiện thực cuộc đời: “Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất” (Lc 10,38-42). Đó cũng là cảm nhận trong bài thơ sau:

Lạy Chúa!
Xin cho con tin rằng: giờ nầy đang có Chúa, ở đây, bên con, rất gần con;
và dành cho con điều quý nhất: Tình Yêu!
Xin Chúa cũng cho con hiểu rằng:
Con đến đây, có mặt trong giây phút nầy, là để gặp gỡ Chúa, và dành cho Chúa điều quý nhất của đời con.
Nhưng Chúa ơi! Điều quý nhất của con, biết nói thế nào đây! Có phải:
Một niềm vui con vừa nhận lãnh?
Một cơn bệnh con mới vượt qua?
Một mối lợi con vừa thâu tóm?
Một mối tình con được đong đầy?...
Nhưng nếu chỉ có vậy, thì làm sao gọi tên là quý giá nhất đời! Vì hình như những thực tại mà con thường có đó, lại kéo lôi con quay lưng xa cách Chúa mà thôi!
Như vậy, con còn có chi đâu, để hôm nay mang về làm quà dâng cho Chúa? Không lẽ con dâng:
Một cái tôi nghèo hèn trơ trọi?
Một tâm hồn lạc lõng bơ vơ?
Một trái tim dại khờ chai đá?
Một niềm tin héo hắt phai nhòa?
Vâng Chúa ơi!
Trước mặt Chúa giờ nầy con chỉ có bấy nhiêu thôi, cái trọn vẹn, cái sâu xa nhất, cái tôi, một ngôi vị, một thằng người, một cuộc đời đang sống!
Quà tặng như thế, con e rằng Chúa sẽ buồn lắm! Vì khi cho con, Chúa đã cho cả một mối tình thâm sâu trọn vẹn,
Một Ngôi Vị thánh thiện tuyệt đối quyền năng,
Một cuộc đời không gợn chút mây đen,
Một trái tim thanh khiết, dịu dàng, khoan dung, quảng đại…
Khi nhập thể làm người, Chúa đến với con không một lần so đo tính toán.
Khi ở giữa loài người, Chúa chấp nhận phận nghèo bằng nước mắt mồ hôi của bàn tay thợ mộc.
Không tị hiềm, chằng khinh miệt, Chúa lang thang đói mệt đi truyền giảng Tin Vui.
Chúa đã tìm con bằng ánh mắt nhân từ, Chúa đã chờ con trở về bằng đôi tay rộng mở…
Và trên đồi cao hoàng hôn loang máu, tấm thân rách nát, trơ trụi thảm thương,
Muôn nỗi đoạn trường, Tình yêu: quà tặng cuối cùng Ngài cho con tất cả!
Và bây giờ, Lạy Chúa!
Con còn tìm đâu xa, con cần gì nhớ lại, Con cần chi phải suy nghĩ đợi chờ, vì chính Chúa đang đích thân hiện diện bây giờ,
Một Tấm Bánh đơn, nhưng là tất cả.
Tất cả Mình và Máu.
Tất cả yêu thương, một tình yêu cho đến tận cùng!
Thì ra giờ nầy con chợt hiểu:
Chúa cho con nhiều quá vì Chúa chính là Tình Yêu. Trong khi con trơ trọi nghèo nàn chẳng có chi, vì con chỉ là loài tạo vật hư hèn tro bụi.
Nhưng con vẫn tin rằng:
Không vì thế mà Chúa lại đòi con, phải dâng cho Chúa thật nhiều lời kinh, thật nhiều công nghiệp, thật nhiều cơm bánh gạo tiền, ăn chay, chia sẻ…
Nhiều giọt mồ hôi tông đồ, phục vụ,
Nhiều tháng, nhiều ngày bác ái hy sinh…
Lạy Chúa, vì đã hơn một lần con chợt lắng nghe: “Mác-ta, Mác-ta ơi, con đa đoan lắm chuyện làm chi, chỉ một chuyện, một chuyện cần nhỏ thôi, nhưng là tất cả…”
Vâng chuyện nhỏ đó muôn nơi và muôn thuở. Chính là đây: ngồi xuống, yên lặng, lắng nghe.
Là hiệp thông, gặp gỡ thân tình,
Là hoán cải trở về trong tin yêu mặn nồng tha thiết,
Là hội ngộ mừng vui giã từ xa xôi cách biệt,
Là hàn huyên tình tự trong thân mật yêu thương…
Lạy Chúa hôm nay, nếu Chúa chỉ đòi con,
Mang cho Chúa những món quà như thế,
Thì con đây,
Xin cho con được quỳ xuống ở đây, trong giây phút nầy, trước mặt Chúa!  [5]

---------------------------------------------------

[1] W.Grossoum (Đang tìm hiểu lai lịch)

[2] Xem bài viết “Căn bệnh ung thư tâm hồn của tác giả Thu Ngân trên trang mạng motthegioi.vn (link : http://motthegioi.vn/chuyen-hom-nay-c-155/can-benh-ung-thu-tam-hon-44244.html

[3] Trang mạng Trung Tâm Học vấn Đa Minh, chủ đề: Hiểu sống đức tin: “Sa mạc có ý nghĩa gì trong đời sống đức tin của người Ki-tô hữu.”

[4] Xc. TB 33,362 - Số 13: “Đời sống nội tâm của hội viên Legio Mariæ”

[5] Sơn Ca Linh, Tuyển tập thơ MÙI CỦA BÁNH TÌNH YÊU, trang 61-64
 Trở về