Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 29 tháng 4 năm 2017

 HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(04/02/2017 02:13 AM)
Chia sẻ tin:
Ý nghĩa giá trị
của tình yêu tính dục
JM. Lam Thy ĐVD

Hôn nhân vốn dĩ là một điều thiện hảo quý giá do ân sủng của Thiên Chúa ban tặng, bởi có hôn nhân mới có gia đình, có gia đình mới có xã hội. Giai đoạn chuẩn bị hôn nhân là thời kỳ mang một tầm mức vô cùng quan trong, và vì thế nên “Giáo Hội đặc biệt ngỏ lời với các bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân trên con đường hôn nhân và gia đình, ngõ hầu mở ra cho họ những chân trời mới bằng cách giúp họ khám phá ra vẻ đẹp và sự cao cả của ơn gọi sống tình yêu phục vụ cho sự sống” (Tông huấn Gia Đình “Familiaris Consortio”, số 1). Để người trẻ ý thức tầm mức quan trọng của bước chuẩn bị đó, dựa trên bản “Gợi ý Mục vụ năm 2017”, xin xem thêm 2 đề tài: Người trẻ với đời sống hôn nhân Hành trình chuẩn bị hôn nhân: Đính Hôn trên Tập san Legio Mariæ số 69-70 hoặc trên website: www.daobinhducme.net - mục  HÔN NHÂN GIA ĐÌNH .
i

http://hdgmvietnam.org/Images/Editor/GHCG-VietNam/Logo_NamMVGD_2017s.jpg

X
- See more at: http://www.daobinhducme.net/view.aspx?idx=5c4ec7b4-7257-4c70-837a-d20e56b1eb0a&ag=19912#sthash.duq2JuBw.dpuf

http://hdgmvietnam.org/Images/Editor/GHCG-VietNam/Logo_NamMVGD_2017s.jpg

I. Khái niệm về Tính dục:
 
1- Quan điểm triết học về Tính dục:
 
Tình dục (情 欲) là khái niệm phản ánh quan hệ tính giao nam nữ. Cụ thể, tình dục ở loài người là năng lực giới tính, thể chất, tâm lý và sinh dục, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của nam giới và nữ giới. Tính dục (性 欲) là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính giữa hai cá thể khác giới (trong đại đa số trường hợp) vừa chứa đựng những yếu tố tạo nên phần hữu hình (thể xác) và cả phần vô hình (tinh thần) của một con người. Theo Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia thì khái niệm tính dục bao hàm:

* Nhận thức và cảm xúc về cơ thể mình và cơ thể người khác.
* Tính chất tâm lý bên trong và hành vi ứng xử bên ngoài.
* Cảm xúc, suy nghĩ và nhu cầu gần gũi về tình cảm với một ai đó.
* Cảm giác hấp dẫn tình dục với người khác.
* Các tiếp xúc tình dục: từ động chạm cơ thể đến giao hợp.

Các cẩm nang về tình dục đã có từ thời cổ đại, tuy nhiên chuyên ngành nghiên cứu “Tình dục học” được coi là mới xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX.

2- Quan điểm Ki-tô giáo về tính dục:
 
Quan điểm Ki-tô giáo xác nhận thân xác và tính dục là công trình của Đấng Tạo Hóa, nó là quà tặng lớn lao đặt để trong thân xác con người khả năng sinh sản, cho con người tham dự vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Tính dục như một thứ tinh thần nhập thể trong con người. Cần phân biệt “Tính dục” và “Tình dục”: Phạm vi “Tình dục” (情 欲) chỉ giới hạn trong tình yêu (eros) nam nữ (sự ham muốn chiếm đoạt thân xác); còn “Tính dục” (性 欲) thì phạm trù bao quát hơn, đó là tình bác ái (agape) là thành phần căn bản của cá tính, cách thức tự thể hiện, giao tiếp với kẻ khác, cách thức cảm nghiệm, diễn tả và sống tình yêu nhân bản. Tính dục tự nó có bản chất hướng đến tương quan liên vị hay hiệp thông nhân vị. Tính dục của con người là một điều thiện hảo được tặng ban từ Đấng Tạo Hóa. Tính dục là ngôn ngữ của tình yêu vợ chồng, giúp vợ chồng thông hiệp với nhau, đem lại cho nhau niềm hoan lạc chính đáng và trao ban một sự sống khác.

II.Ý nghĩa sâu xa của Tình yêu và Tính dục:
 
Điểm then chốt phát sinh tính dục chính là Tình yêu. Chân lý “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8) làm nên đích điểm của tất cả những gì đã được mạc khải. Việc tạo dựng biểu lộ thẩm quyền toàn năng của Thiên Chúa Hóa Công đã được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan và được thúc đẩy bởi tình yêu vô lượng. Công việc cứu chuộc còn hùng hồn bày tỏ một biểu chứng sâu vững hơn nữa. Chỉ có tình yêu toàn năng mới có thể rút được sự lành từ sự dữ, sự sống mới từ tội lỗi và sự chết. Tình yêu là một thuộc tính căn bản của Thiên Chúa. Tất cả những gì Thiên Chúa làm là yêu thương, công bình và ngay thẳng. Đó là biểu mẫu hoàn hảo tuyệt đối của chân lý tình yêu bất biến.

Thông điệp “Deus Caritas Est - Thiên Chúa là Tình Yêu” (số 10) đã lý giải: “Tình yêu giữa một người nam và một người nữ, thứ tình không bị an bài trước và cũng chẳng bị bắt buộc, nhưng cách nào đó tự xảy đến trên con người, được gọi là eros (tình ái) trong tiếng Hy Lạp cổ. Chúng ta đã thấy rằng eros của Thiên Chúa dành cho loài người cũng hoàn toàn là agape. Điều này không chỉ vì tình yêu này được trao ban một cách rất hào phóng, nhưng không, nhưng còn vì đó là một tình yêu tha thứ. Chiều kích triết học đáng nêu ra trong hình ảnh Thánh Kinh này, và tầm quan trọng từ quan điểm lịch sử các tôn giáo, là một mặt chúng ta thấy mình đứng trước một hình ảnh rất siêu hình của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối và là nguồn mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. Eros vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với agape.”

Trong ý nghĩa sâu xa đó, thánh Phao-lô đã dạy: “Để tránh hiểm hoạ dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng. Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Xa-tan lợi dụng để cám dỗ. Điều tôi nói đó là một sự nhân nhượng chứ không phải là một mệnh lệnh. Tôi ước muốn mọi người đều như tôi; nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác. Với những người độc thân và quả phụ, tôi nói thế này: họ cứ ở vậy như tôi thì tốt cho họ. Nếu không tiết dục được, họ cứ kết hôn, vì thà kết hôn còn hơn là bị thiêu đốt” (1 Cr 7, 2-9). Và cũng chính vì thế, nên có thể xác quyết: Tình yêu và Tính dục có ý nghĩa thật sâu xa và giá trị vô cùng cao quý.

III.Giá trị đích thực của Tình yêu và Tính dục:
 
Với mục đích giúp cho vấn đề thêm sáng tỏ, xin dựa vào tài liệu “Sự thật và ý nghĩa của tính dục con người” (số 10-13) của Hội đồng Tư vấn Giáo hoàng (ban hành ngày 8/12/1996) để tìm hiểu:

1- Tình yêu và tính dục là công trình sáng tạo:
 
Có thể nói công trình sáng tạo của Thiên Chúa (tạo dựng vũ trụ và vạn vật) được thực hiện là nhằm mục đích phục vụ con người (“Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy” – St 1,28-30). Nói cách khác, công trình sáng tạo của Thiên Chúa thể hiện sinh động nhất Tình Yêu của Người, và vì thế nên “chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4, 16).

Quả thật khi tạo dựng nhân tính của con người có nam có nữ theo hình ảnh Người và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa đã ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông (hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau). Do đó, Tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của con người. Tình yêu cũng bao gồm cả thân xác con người và thân xác được dự phần vào tình yêu của tinh thần. Cũng bởi con người là một tinh thần nhập thể, nghĩa là một linh hồn biểu lộ trong một thân xác và một thân xác được sinh động do một tinh thần bất tử, nên nó được mời gọi sống yêu thương trong toàn thể duy nhất tính của nó. Nhãn quan Ki-tô giáo nhìn nhận có hai cách thế chuyên biệt để thực hiện ơn gọi sống yêu thương của nhân vị trong sự trọn vẹn của nó: đó là hôn nhân và trinh khiết. Cả hai cách thế đều là sự cụ thể hoá sự thật sâu xa về con người, “hữu thể theo hình ảnh của Thiên Chúa”.

2- Tình yêu và tính dục là hành vi nhân linh:
 
Thánh Tô-ma A-qui-nô phân biệt “hành động của con người” và “hành vi nhân linh”. Chỉ có hành vi nhân linh mới được lượng giá về mặt luân lý, nghĩa là nó tốt hay xấu, vì con người thực hiện những hành vi đó cách tự do và ý thức. Vậy, tính chất luân lý của một hành vi nhân linh hệ tại điều gì? Giáo huấn luân lý của Ki-tô giáo phân biệt ba yếu tố: một là chính hành động, hai là mục đích hay ý hướng của hành động, ba là những hoàn cảnh chung quanh hành động (GL/HTCG, số 1749-1750). Đó là ba yếu tố cấu thành hành vi nhân linh trong tình yêu và tính dục, như Tông huấn về Gia đình “Familiaris consortio” (số 11) khẳng định:
“Bởi thế, tính dục mà nhờ đó người nam và người nữ hiến mình cho nhau bằng những hành vi riêng biệt và chỉ dành riêng cho đôi bạn, tính dục ấy không phải là một điều thuần tuý sinh lý, nhưng có liên hệ đến nhân vị trong mức thâm sâu nhất mà nhân vị ấy có được. Tính dục ấy chỉ được thực hiện một cách nhân bản đích thực, nếu nó là một thành phần làm nên tình yêu, trong đó người nam và người nữ hiến thân trọn vẹn cho nhau cho đến chết. Sự trao hiến hoàn toàn theo thể xác sẽ giả dối nếu nó không phải là dấu chỉ và kết quả của sự trao hiến cả ngôi vị, trong đó toàn thể ngôi vị đều hiện diện, cả trong chiều kích trần tục của nó. Nếu người ta dành lại bất cứ điều gì, hoặc dành cho mình quyền có thể quyết định khác đi sau này, thì như thế không còn là một sự trao hiến hoàn toàn nữa.”

Con người được mời gọi để yêu và để tự hiến trong sự thống nhất hồn xác. Phái nam và phái nữ là những hồng ân bổ sung cho nhau. Từ thực tế này, tính dục con người là phần căn bản của khả năng cụ thể để yêu mà Thiên Chúa đã đặt để trong người nam cũng như người nữ. Tính dục là thành phần căn bản của cá tính, nó là một cách thức hiện hữu, cách thức tự thể hiện, giao tiếp với kẻ khác, cách thức cảm nghiệm, diễn tả và sống tình yêu nhân bản. Khả năng yêu thương được xem như là tự hiến “nhập thể” trong nền tảng hôn nhân của thân xác. Thân xác con người với giới tính nam nữ, nếu được nhìn từ mầu nhiệm sáng tạo, không những là nguồn của sung mãn và sinh sản như trong trật tự của toàn thể tự nhiên, nhưng được chứa chất “ngay tự ban đầu” đặc tính “phu thê”. Mọi hình thức tình yêu đều mang dấu ấn phái tính nam nữ.

Như thế, Tính dục của con người là một điều thiện hảo, vì đó là một phần của quà tặng sáng tạo mà Thiên Chúa đã tạo dựng con người để được sống và hiện hữu như người nam hay người nữ, trong một sự hiện hữu duy nhất với những khả năng vô tận trong việc phát triển tinh thần và luân lý: “Ðời sống con người được đón nhận như một quà tặng, để tới phiên mình tiếp tục được trao ban” (La vie humaine est un don reçu pour être à son tour donné). Có thể nói, quà tặng giúp cho thấy được tính chất đặc thù của sự hiện hữu cá nhân, hay rõ hơn, bản chất của chính cá nhân. Khi Ðức Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18) là Người xác nhận con người “đơn độc” không thể nào thể hiện trọn vẹn được bản chất của mình. Con người chỉ thực sự sống đúng bản chất khi sống “với kẻ khác”, và rõ hơn là sống “cho kẻ khác”. Khi con người bộc lộ và tự ban tặng mình cho kẻ khác, tình yêu vợ chồng mang lấy hình thức tự hiến trọn vẹn đặc thù cho bậc sống này.

Kể cả ơn gọi sống đời tận hiến cho Chúa, “một hình thức vượt trổi để dễ dàng tận hiến cho Chúa bằng tình yêu trọn vẹn không chia sẻ”, để có thể phục vụ Người trong Hội Thánh cách tốt nhất, ơn gọi này cũng nhận được ý nghĩa của mình trong sự tự hiến được ân sủng của Chúa đỡ nâng. Trong mọi hoàn cảnh và bậc sống, việc tận hiến này còn kỳ diệu hơn nữa nhờ hoạt động của ân sủng cứu độ, nhờ ân sủng này mà chúng ta “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1, 4) và được kêu gọi để sống hiệp thông tình yêu siêu nhiên với Thiên Chúa và mọi người. Rõ ràng “Con người là một tinh thần nhập thể, nghĩa là một linh hồn biểu lộ trong một thân xác và là một thân xác được sinh động do một tinh thần bất tử, nên nó được mời gọi sống yêu thương trong toàn thể tính thống nhất của nó. Tình yêu thương cũng bao gồm cả thân xác con người và thân xác được dự phần vào tình yêu thương của tinh thần” (T/H “Familiaris Consortio”, số 11).

Chính nhờ điểm then chốt đó trong giá trị đích thực của tình yêu và tính dục trong hôn nhân, nên có thể nói vấn đề mang hai chiều kích tương giao đồng thuận chủ yếu trong một chân lý bất biến như đã trình bày ở trên: 1- “Tình yêu và tính dục” là công trình sáng tạo của Thiên Chúa, là hồng ân ban tặng cách nhưng không cho con người; và vì thế nên:  2- “Tình yêu và tính dục” là hành vi nhân linh của con người – một hành vi sáng tạo của con người (sinh sản con cái) cộng tác với công trình sáng tạo của Thiên Chúa (tạo dựng loài người).

Kết luận:

Tóm lại, “Ý nghĩa và giá trị của tình yêu và tính dục” trong hôn nhân Ki-tô giáo là sợi dây liên kết thánh thiện vì chính ích lợi của lứa đôi, của con cái, của xã hội và hạnh phúc vĩnh cửu của mỗi thành viên. “Tình yêu ấy có đặc tính nhân linh cao cả vì từ một nhân vị hướng đến một nhân vị khác bằng một tình cảm tự ý, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người. Nên tình vợ chồng có thể lồng vào những biểu lộ của thể xác và tâm hồn một phẩm giá đặc biệt, và khiến chúng trở nên cao quí như những yếu tố và dấu hiệu đặc thù của tình yêu đôi bạn. Bởi một ơn huệ đặc biệt của ơn sủng và của tình thương, Chúa đã đoái thương chữa trị, cải thiện và nâng cao tình yêu ấy. Một tình yêu kết hợp yếu tố nhân loại với yếu tố thần linh như thế phải thấm nhuần cả đời sống và hướng dẫn đôi vợ chồng biết tự do trao hiến cho nhau, qua những tâm tình và cử chỉ trìu mến.” (Hiến chế về Mục vụ “Gaudium et Spes”, số 49).

Người Ki-tô hữu cần ý thức vấn đề: Chẳng ai là chủ nhân ông tuyệt đối trong giới tính của mình. Khi tương giao tính dục được thực hiện, nó là một hành vi có tính cộng đồng dù chưa đi vào hay nằm ngoài định chế pháp luật của nhà nước về hôn nhân. Khác với mọi tạo thành khác, tính dục vừa là công trình của sáng tạo vừa có khả năng sáng tạo. Chính tại điểm này mà đời sống hôn nhân ngay từ nguyên thủy đã mang dáng dấp thần tính thiêng liêng. Mọi thụ tạo hướng đến ơn cứu độ đã được hoàn thành trong cuộc Vượt Qua của Đức Ki-tô, vì vậy, khả năng sáng tạo của tính dục sẽ làm cho con người được thăng hoa khi kết hợp với Nguồn Ơn Cứu Độ. Rõ ràng “Tình yêu giữa người nam và người nữ không xuất phát từ suy tư và ý chí, nhưng thống trị con người trọn vẹn” (TĐ “Deus Caritas Est”, số 3). Chính vì thế “các Ki-tô hữu có bổn phận phải loan báo cách vui tươi và xác tín, “Tin Mừng” về gia đình, vì một cách tuyệt đối, gia đình đang còn và mãi mãi vẫn còn cần nghe và cần hiểu ngày càng sâu sắc hơn, những lời đích thực mạc khải cho gia đình biết chân tính của nó, những tiềm năng và tầm quan trọng sứ mạng gia đình trong xã hội loài người và trong Hội Thánh Thiên Chúa” (T/H “Familiaris Consortio”, số 86).

Tình yêu và Tính dục trong Kitô giáo

1.
Dẫn nhập
 
Nhà thơ trẻ Alfred de Musset đã từng tâm sự rằng “Cả người tôi run bắn lên khi nàng xuất hiện”. Đó là cảm xúc về lần gặp gỡ đầu tiên của thi nhân với người tình thơ của mình, nàng George Sand. Và kể từ “cái buổi ban đầu lưu luyến ấy”, có thể chỉ cần một cử chỉ, giọng nói, mùi nước hoa, hay một ánh mắt của nàng là có thể khiến cho Musset, và bất cứ người nào trong chúng ta cũng có thể như vậy, trở nên ngây ngô không cưỡng lại được khi gặp được đúng “một nửa yêu thương” của đời mình. Có lẽ đó chính là quy luật từ ngàn xưa đến nay đã thế! Người nữ hấp dẫn người nam và ngược lại. Theo quan điểm sinh học thì đó là vì lợi ích cúa sự duy trì giống loài, sự thèm muốn lẫn nhau xuất hiện như một động lực thúc đẩy bản năng con người hướng đến hành vi sinh sản để lưu truyền nói giống. Nhưng có phải người nam và người nữ hấp dẫn nhau chỉ vì nhu cầu của tính dục không hay còn vì những giá trị gì khác nữa? Người ta thường bảo rằng con tim có lý lẽ riêng mà lý trí không biết. Tại sao người ta hồi hộp rung động trước người này mà trơ lỳ trước người khác? Khoa học lâu nay vẫn luôn đi tìm những vẫn chưa có được những câu trả lời nào thuyết phục nhất và người ta vẫn đang đi tìm đâu là giá trị đích thực của tình yêu và tính dục. Quan điểm của Giáo Hội ra sao về vấn đề tình yêu và tính dục trong đời sống hôn nhân Kitô giáo?

2. Tình yêu và sự thân mật của đôi bạn
 
Đời sống hôn nhân, không chỉ dừng lại ở mối quan hệ thể lý của đôi vợ chồng mà phải hướng đến một giá trị cao hơn, nghĩa là sự kết hợp tinh thần. Nếu trong sinh hoạt vợ chồng mà chỉ nhắm đến tính dục và tách khỏi khía cạnh của tình yêu, thì không thể nào nói đến sự khiết tịnh được.

Tính dục và tình yêu theo luân lý Kitô giáo không có sự tách rời, không thể cô lập và tách rời đời sống tính dục trong toàn bộ đời sống hôn nhân và khỏi những sự quan tâm quý giá và lớn lao mà hai vợ chồng dành trao cho nhau.

Thánh Phaolô Tông đồ dạy rằng: “Chồng phải nhìn nhận quyền vợ chồng của mình; ngược lại vợ cũng phải thế. Vì vợ không làm chủ thân xác mình mà là chồng. Chồng cũng không làm chủ thân xác mình mà là vợ. Đừng từ chối nhau, trừ khi đã có thoả thuận vì một lý do gì đó, như để cầu nguyện. Nhưng sau đó, hãy trở lại với nhau, kẻo bị Satan cám dỗ vì không tự chủ nổi” (1 Cr 7,3 - 5).

Trong đời sống chung, người chồng cần phải khéo léo để đọc ra được những lời yêu cầu thầm kín của vợ mình, nên giải thích những dấu hiệu muốn tỏ bày trong sự riêng tư của đời sống chung đó là những ý kiến và yêu cầu của vợ. Người chồng khôn ngoan như vậy, hẳn rằng tình yêu của hai người sẽ mỗi ngày một nhiều hơn để hai bên bắt đầu gặp nhau trong sự hiểu biết, cảm thông và chia sẻ.

Sự thân mật và âu yếm của đôi bạn không chỉ là việc nằm trong chính đời sống hôn nhân, mà nó đi liền với việc kết hiệp vợ chồng. Sự kết liên trong một của vợ chồng phải được diễn tả qua những cử chỉ của một tình yêu dịu dàng, thân ái. Những sự thân mật của đôi vợ chồng, sẽ nuôi dưỡng một tình yêu bền chặt.

Các quan hệ vợ chồng phải được hướng dẫn và cảm hứng từ sự quan tâm lo lắng cho nhau một cách vô vị lợi như thế. Tình yêu của họ cũng phải luôn luôn là tình yêu nhằm phục vụ Chúa và kế hoạch sáng tạo, cứu độ của Ngài.

Làm chủ dục vọng là nhiệm vụ của hai vợ chồng cùng chung vai sát cánh, cùng đồng thuận với nhau trong tính thống nhất, để bảo vệ tình yêu hôn nhân gia đình được mãi mãi sắt son. Đôi vợ chồng cần có lương tâm tinh tế, đôi khi cũng có thể thái quá trong việc kiềm chế các biểu hiện của tình cảm vợ chồng. Nếu nghiêm nhặt quá trong sự khát mong có thể dẫn đến mất niềm vui trong tình yêu đối với nhau và làm cho ước vọng yêu thương bị gián đoạn, dở dang và tan biến dần. Những cử chỉ thân mật, yêu thương nhằm nuôi dưỡng tình yêu vợ chồng, để an ủi và nâng đỡ nhau trong mọi nỗi ưu sầu phiền muộn, nỗi lo lắng hay buồn bã, để cho người bạn đời của mình cảm nhận được một sự nâng niu, yêu thương và quý mến. Thánh Phaolô dạy rằng: “Vợ chồng phải yêu thương nhau cũng bền lâu và nồng nàn như Đức Kitô yêu Giáo hội và như Giáo hội tận hiến cho Đức Kitô” (Ep 5,21-33).

Trong đời sống hôn nhân, người đàn ông và người đàn bà sẽ cần phải giúp đỡ nhau và phục vụ nhau bằng cách kết hiệp mật thiết với nhau trong con người và trong việc làm. Kinh Thánh nói về vườn địa đàng, việc Thiên Chúa trao ban cho người đàn ông một người bạn đồng hành để hai bên tương trợ và giúp đỡ nhau và làm bạn với nhau. Đàn ông ở một mình không tốt, ta sẽ làm cho nó một người trợ giúp, thích hợp với nó (St 2, 18). Thế là Thiên Chúa đã tạo ra người phụ nữ, khi người phụ nữ xuất hiện, thì Adam đã thốt lên rằng: “Ôi! Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Và rồi, sách thánh kết luận: “Bởi đó, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ của mình, cả hai sẽ nên một xương một thịt (St 2, 23). Đây là kiểu nói ngụ ý rằng hôn nhân không phải chỉ là một ràng buộc trong thân xác mà còn tạo nên một cuộc sống mới, một cuộc sống với nhau và cho nhau, một thực tại mà không bao giờ có thể loại bỏ được.

Một tình yêu lý tưởng và trọn vẹn là tình yêu không chia sẻ cho bất kỳ một ai khác, điều này được các Ngôn sứ trong Cựu Ước diễn tả mối tình giữa Giavê với dân Israel của Ngài (Gr 2 – 4; 31). Trong Tân Ước, Thánh Phaolô cũng diễn tả hôn nhân giống với sự kết hợp của Đức Kitô với Hội Thánh “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình, như Đức Kitô yêu thương Giáo hội, và phó mình cho Giáo hội, để thánh hoá Giáo hội… Người chồng phải yêu thương vợ như yêu chính thân thể mình (Ep 5, 25).
 
Chúng ta nên hiểu sự tương trợ mà hai vợ chồng phải có trong tình yêu hôn nhân, không dừng lại ở chỗ tương trợ lẫn nhau khi vui vẻ hạnh phúc, thịnh vượng, nhưng mà còn cần hơn nữa, là phải gắn bó với nhau khi gặp hoạn nạn, lúc khổ đau, khi âu sầu lúc gian truân…

Đời sống hôn nhân cũng thường được xem như là cách thế để làm dịu bớt dục vọng, ngăn cản tính dục đi lệch đường, đặt nó dưới sự kiểm soát chặt chẽ của tình yêu hôn nhân. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ những người còn độc thân hay những quả phụ nên ở như vậy tiếp tục: “Với những người độc thân và quả phụ, tôi nói thế này, họ cứ ở vậy, theo như tôi thì tốt cho họ hơn” (1Cr 7,8). Nhưng ngài lại thêm rằng: “Nếu họ không làm chủ được thì nên lập gia đình, vì thà kết hôn còn hơn là nung nấu lửa dục vọng (1Cr 7,9).
 
Tuy nhiên, không nên coi việc làm dịu các dục vọng là một mục tiêu để tách rời các mục tiêu khác, như để chỉ thoả mãn bản năng tính dục. Đôi vợ chồng nên tỏ ra quan tâm đến nhu cầu và sự cám dỗ tính dục của bạn mình. Bằng cách này, họ sẽ vượt lên trên sự thoả mãn thuần tuý để tiến tới chỗ yêu thương, quan tâm và lo lắng cho nhau. Sau hết, muốn thực hiện bản năng tính dục cho có ý nghĩa thì phải đặt bản năng ấy phục vụ các mục tiêu khác của hôn nhân, như tạo hoá đã sắp đặt. Chỉ có tình yêu vợ chồng mới có sức chữa lành.

3. Trách nhiệm trong tình yêu hôn nhân
 
Trong thời gian chuẩn bị cho việc kết hôn, các đôi bạn trẻ thanh niên nam nữ thường có một thời gian chuẩn bị, hay còn gọi là thời kỳ đính hôn. Động cơ để đưa hai người đến với nhau và xích lại gần nhau hơn thường là do hai người đã có một cảm tình về tình yêu với nhau, hay nói cách thông thường bình dân, là đã “hợp nhãn” với nhau rồi. Chỉ có duy nhất hai người khám phá ra những cái riêng của nhau từ sự cùng rung một nhịp đập của trái tim, điều đó khiến cho hai người thuộc về nhau.

Thời gian tìm hiểu và chuẩn bị cho cuộc hành trình hôn nhân mãi mãi và trọn đời chung thuỷ là vấn đề cần thiết và quan trọng, do vậy, đôi bạn trẻ cần có một sự chuẩn bị cho việc xây dựng một nền tảng vững chắc, cần có một lưu ý đến giáo lý tiền hôn nhân, có những sự tìm hiểu về tình yêu và những cung cách sống cho phù hợp. Tuy nhiên, thời gian này dù chỉ là giai đoạn tìm hiều nhưng cũng cần phải biểu lộ một tình thương, lòng chung thành và thẳng thắn đối với nhau.

Tính dục, hiểu theo một nghĩa rộng, đóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong giai đoạn chuẩn bị, nó liên quan đến tâm linh và thể lý, nên không thể trao hiến cho nhau cách trọn vẹn ngay từ lúc ban đầu vừa mới quen biết nhau, nguy hiểm cho cả một quá trình sống trọn đời với nhau sau này. Đừng bao giờ nghĩ chúng mình sẽ là của nhau, rồi mãi là của nhau để tự cho nhau một sự thoả mãn, một cách tự do dễ dàng, nó gây đến một hậu quả thiếu lành mạnh, chán trường và nghi ngờ trong sự dại khờ và non dạ của thưở ban đầu.

4. Trách nhiệm luân lý của tình yêu tính dục trong hôn nhân
 
Mục đích của đời sống hôn nhân có một liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu của tình yêu tính dục. Nhưng không phải chỉ là việc sinh sản con cái mà còn là việc giáo dục con người trưởng thành. Đồng thời, cùng hỗ trợ nhau trong mọi công việc tinh thần lẫn thể chất.

Mục tiêu truyền sinh của tình yêu tính dục là một mục tiêu căn bản của hôn nhân. Hiến chế Mục Vụ số 50 khẳng định: “Tự bản chất hôn nhân và tình yêu vợ chồng được tổ chức nhằm sinh sản và giáo dục con cái. Con cái đúng là một món quà cao quý nhất của hôn nhân, góp phần rất căn bản vào hạnh phúc của cha mẹ… Vì thế, tuy không coi nhẹ các mục tiêu khác của hôn nhân, nhưng sống tình yêu vợ chồng cách đích thực và tìm được ý nghĩa cho đời sống gia đình, tất cả đều nhằm mục tiêu ấy: vợ chồng phải sẵn sàng can đảm và cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa tạo hoá và cứu độ, đã dùng họ để ngày ngày mở rộng và làm giàu thêm cho gia đình của Ngài. Cha mẹ phải coi việc truyền sinh và giáo dục những người đã được mình truyền sự sống cho như sứ mạng của riêng mình”.

Quan hệ tính dục chỉ có giá trị hợp pháp trong khuôn khổ hôn nhân. Kinh Thánh đã giải thích ý định của Đấng Tạo Hoá một cách đúng đắn khi coi truyền sinh là một mục tiêu thiết yếu của hôn nhân. Hôn nhân thời nào cũng được bảo đảm là đưa tới sinh sản, vì chính Chúa đã chúc phúc cho cặp vợ chồng nhân loại đầu tiên rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất” (St 1, 28) như trình thuật sáu ngày sáng tạo cho thấy.

5. Trưởng thành trong tình yêu nhân loại
 
Theo một quy luật tự nhiên, sự thu hút nhau do bản năng tính dục của hai người nam nữ khi gặp gỡ nhau. Nhưng nếu việc kết hợp tính dục chỉ dựa theo bản năng này thì chưa phải là tình yêu nhân loại đúng nghĩa. Bên cạnh hay thậm chí trước cả khi có những biểu hiện của tình yêu tính dục ấy, quan hệ giữa các phái tính phải là một sự giao tiếp cá nhân, biết kính trọng, yêu thương và quan tâm đến nhau.

Tình yêu tính dục và đức ái Kitô giáo hoàn toàn liên kết chặt chẽ không tách rời. Tính dục nơi con người có xu hướng nội tại là tỏ lòng yêu mến người khác, luôn muốn chăm sóc, phục vụ và bảo bọc người kia. Khuynh hướng đó ngày càng được tăng trưởng nơi các thanh niên nam nữ từ khi mới bắt đầu quen nhau cho đến ngày trở thành bạn đời trăm năm của nhau.

Đôi bạn nam nữ phải trưởng thành theo cách riêng của mỗi bên để dần dần trở thành đàn ông và đàn bà thực sự. Cho nên, việc hướng dẫn, giáo dục cho các bạn trẻ khi còn là thiếu niên và ở tuổi dạy thì là điều cần thiết, nhất là phải giáo dục về trưởng thành giới tính và ý thức về mối quan hệ lứa đôi, biết trân trọng, lịch sự khi tiếp xúc với nhau.

6. Kết luận
 
Thánh Gioan Phaolô II, trong bài Huấn giáo ngày 24.12.1980, đã nói rằng nhân vị con người được “mời gọi hướng đến tính cách tự nhiên đầy đủ và trưởng thành trong các mối tương quan của mình”, điều đó “là hoa trái trổ sinh dần dần từ một sự phân định các xung năng trong lòng mình. Tính dục không phải là một phương tiện để thỏa mãn hay để giải trí, vì nó là một ngôn ngữ liên vị trong đó tha nhân được nghiêm túc trân trọng, trong phẩm giá thánh thiêng và bất khả xâm phạm của người ấy”. Như thế, “tâm hồn con người dần tham dự vào, có thể nói, một tính cách tự phát khác”. Trong bối cảnh này, ái tình xuất hiện như một sự thể hiện tính dục chuyên biệt của con người. Trong đó, người ta có thể tìm thấy lại “ý nghĩa hợp hôn của thân xác và phẩm giá đích thực của tặng phẩm trao hiến”. Trong các bài giáo lí về thần học thân xác khác, Thánh giáo hoàng còn dạy rằng thân xác với tính dục dị biệt không những là “nguồn của sự phong nhiêu và sinh sản”, mà nó còn sở hữu “khả năng diễn tả tình yêu: tình yêu mà chính ở đó con người – nhân vị trở thành một quà tặng”. Một khao khát tình dục lành mạnh, cho dù gắn với một mưu cầu lạc thú, đều giả thiết có một cảm thức cảm thán, và chính bởi đó mà nó có thể làm cho các xung năng có tính nhân văn.

Vì thế, chúng ta phải xem chiều kích nhục dục của tình yêu như là một tặng phẩm của Thiên Chúa, nhằm làm đẹp cho mối hạnh ngộ vợ chồng. Tình yêu và tính dục trong quan hệ vợ chồng là điều đáng trân trọng, bởi vì cùng cộng tác vào trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa, để tạo ra những mầm sống mới. Đó là một giá trị cao quý, một tặng phẩm vô giá mà Thiên Chúa yêu thương ân ban cho con người, một mối quan hệ khởi đi từ sự yêu thương, chung thuỷ, quan tâm lo lắng cho nhau cách vô vị lợi. Tình yêu của họ luôn cần phải biểu hiện một tình yêu chân chính, phục vụ nhu cầu của nhân loại, phục vụ trong thánh ý Chúa để kế hoạch sáng tạo và cứu độ của Ngài được thực hiện cách hữu hiệu và trọn hảo. Xét như một đam mê được thăng hoa bởi một tình yêu đầy kính trọng phẩm giá của người kia, đam mê trở thành một “khẳng định tinh tuyền và trọn vẹn” của tình yêu thể hiện những điều kì diệu có thể ẩn chứa trong trái tim con người, và như thế, ngay bây giờ đây, ta có thể nhận thấy rằng “cuộc sống con người đã là một thành công”. Tính dục luôn phải được thi hành trong mục đích và giá trị mà Thiên Chúa đã hướng đến cho việc truyền sinh và giáo dục con người mới, nhằm mang đến lợi ích tốt đẹp và cao quý cho con người qua mọi thời đại, và nâng cao phẩm giá của con người cách đích thực và ý nghĩa.

Phong Trần.
 Trở về
Các bài viết khác:
NGƯỜI CHỒNG TUYỆT VỜI (23/03 20:35:37 PM)
VẤN ĐỀ LY HÔN (12/03 06:12:19 AM)
BÍ QUYẾT CHỌN VỢ (24/02 03:35:56 AM)
CHIẾC XƯƠNG SƯỜN (23/02 04:20:36 AM)