Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 22 tháng 3 năm 2017

 HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(02/03/2017 19:53 PM)
Chia sẻ tin:
Tình yêu phu thê đặc thù của Hôn nhân

JM. Lam Thy ĐVD

Gia đình là nền tảng xã hội và Giáo hội, mà gia đình chỉ hiện hữu khi đôi hôn nhân sống trung thực với tình yêu vợ chồng. Tông huấn Gia Đình “Familiaris Consortio” (số 11) đã nêu bật chân lý ấy: “Thiên Chúa là Tình yêu và nơi chính mình Người, Người đang sống mầu nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Khi tạo dựng nhân tính của người nam và người nữ theo hình ảnh Người và liên lỉ bảo toàn cho nhân tính ấy được hiện hữu, Thiên Chúa ghi khắc vào đó ơn gọi cũng như cả khả năng và trách nhiệm tương ứng, mời gọi con người sống yêu thương và hiệp thông.” Và đó cũng là chủ đề mục vụ tháng 3/2017: TÌNH YÊU PHU THÊ LÀ ĐẶC THÙ CỦA HÔN NHÂN.

http://www.cuoihoivietnam.com/upload/images/chuanbicuoi/cac-nghi-thcu-le-cuoi-trong-nha-thoi0.jpg

Quả thật đời sống chung thân mật của vợ chồng thể hiện cụ thể và sinh động nhất đặc tính của hôn nhân là nền tảng tình yêu do Đấng Tạo Hóa trao ban. Vấn đề này đã được Hiến chế về Mục vụ “Gaudium et Spes” (số 48) khẳng định: “Ðấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Ðời sống chung này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa. Vì lợi ích của lứa đôi, của con cái và của xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện này không lệ thuộc sở thích của con người.”
 

Trước khi đi sâu vào suy niệm tính cách đặc thù của tình yêu vợ chồng trong hôn nhân Ki-tô giáo, thiết tưởng cũng cần tìm hiểu xem vì sao mà Đức Chân phước Giáo hoàng Phao-lô VI lại viết “bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau” (ibid). Hành vi nhân linh là gì?

I.Khái niệm về “hành vi nhân linh”:

Theo từ nguyên thì “hành vi” chỉ có nghĩa là việc làm, xét về mặt đánh giá phẩm chất. Nói rộng ra thì những cung cách hành xử trong cuộc sống con người được coi là những hành vi. Có hai dạng hành vì:

1- Hành vi nhân sinh (actus hominis acts of man):
 
Là hành vi sinh lý tự nhiên của cơ thể con người như ăn uống, hô hấp, bài tiết... không phát sinh từ ý thức. Hành vi loại này bao gồm tất cả những quá trình cảm giác và sinh học tự nhiên, nó được thực hiện nơi con người, không cần có sự can thiệp của lý trí và tự do, nên không bị ràng buộc bởi trách nhiệm tội hay phúc.

2- Hành vi nhân linh (actus humanus human acts):
 
Là những hành vi xuất phát từ sự nhận thức được bản chất và mục tiêu của việc mình làm, cụ thể là hành vi được con người thực hiện với tư cách là một chủ thể có ý thức và tự do, nên có trách nhiệm phúc hay tội. Về tính chất luân lý của một hành vi nhân linh, giáo huấn luân lý của Ki-tô giáo phân biệt ba yếu tố: một là chính hành động, hai là mục đích hay ý hướng của hành động, ba là những hoàn cảnh chung quanh hành động (GLHTCG, số 1.749-1.750).

Trên cơ sở đó, loài người xây dựng những định chế hôn nhân, mà con người được tác tạo bởi Thiên Chúa toàn năng nên phải khẳng định: “Chính Thiên Chúa là Ðấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau; những điều ấy hết sức quan trọng đối với sự tiếp nối nhân loại, sự phát triển cá nhân và phần rỗi đời đời của mỗi thành phần trong gia đình, quan trọng đối với phẩm giá, sự vững chãi, an bình và thịnh vượng của chính gia đình và của toàn thể xã hội loài người… Tình yêu ấy có đặc tính nhân linh cao cả vì từ một nhân vị hướng đến một nhân vị khác bằng một tình cảm tự ý, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người. Nên tình vợ chồng có thể lồng vào những biểu lộ của thể xác và tâm hồn một phẩm giá đặc biệt, và khiến chúng trở nên cao quí như những yếu tố và dấu hiệu đặc thù của tình yêu đôi bạn” (Hiến chế “Gaudium et Spes”, số 48.49).

Khi hai người nam nữ nói lên sự ưng thuận nối kết lại với nhau để “trở nên một thân thể” (x. St 2,24; Mc 10,8; Ep 5,31) thì cũng là lúc đặc tính hôn nhân được thể hiện cụ thể; và đó chính là đặc tính của tình yêu vợ chồng. Đó là sự thật hiển nhiên như ĐTC. Phan-xi-cô phát biểu trong dịp tiếp kiến các thành viên Tòa Thượng Thẩm Rô-ma (ngày 21/01/2017): “Tình yêu cần có sự thật. Chính nhờ đặt căn bản trên sự thật, mà tình yêu có thể kéo dài với thời gian, vượt qua các khoảnh khắc phù du và kiên vững trong việc cùng hỗ trợ nẻo đường chung. Tình yêu thực sự kết hợp mọi yếu tố của con người và trở thành một ánh sáng mới hướng tới một cuộc sống tuyệt diệu và trọn vẹn.”
 
II.Đặc tính của tình yêu vợ chồng:

Khi dựng nên loài người, Thiên Chúa “lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Nhờ vậy, con người có hai phần: thân xác là bụi đất, còn sự sống là tinh thần. Nói cách cụ thể, vì có hai phần thể xác và tinh thần, nên con người là một “tinh thần nhập thể” như Tông huấn “Familiaris Consortio” (số 11) phân giải: “Bởi con người là một tinh thần nhập thể, nghĩa là một linh hồn biểu lộ trong một thân xác và một thân xác được sinh động do một tinh thần bất tử, nên nó được mời gọi sống yêu thương trong toàn thể duy nhất tính của nó. Tình yêu cũng bao gồm cả thân xác con người và thân xác được dự phần vào tình yêu của tinh thần”. Từ nền tảng đó, tình yêu vợ chồng minh nhiên bốn đặc tính:

1- Tình yêu kết hợp nên một:

Ca dao Việt Nam có câu: “Mình với ta tuy hai mà một, Ta với mình tuy một mà hai.” Thật vậy, trong tình yêu vợ chồng, nhìn theo nhãn giới linh thị, “Một” ở đây là muốn nói lên sự kết hợp mật thiết đến độ không chỉ dừng ở việc ý hợp tâm đầu, mà còn đón nhận và trao ban cho nhau trọn vẹn, trở thành một xương một thịt suốt đời. Tuy nhiên, nhìn theo nhân sinh quan thì vợ chồng vẫn là hai thân xác, với những cấu tạo hình thể và cả tính tình cũng vẫn là hai cá thể. Hai con người với hai tên gọi khác nhau (một NAM và một NỮ) đã tự hiến cho nhau trọn cả con người, đón nhận nhau trọn cả cuộc sống, để trở thành một xương một thịt suốt đời và từ đó làm nảy sinh những sự sống mới.

Vợ chồng trước khi lấy nhau, họ là hai thế giới khác biệt với những vấn đề, những khát vọng, những niềm vui, nỗi buồn riêng tư. Giờ đây, khi đã lấy nhau, hai thế giới đó được hoà trộn vào nhau, thành một xương một thịt và một tâm hồn, chia sẻ một vận mệnh và một cuộc sống. Sự kết hợp đó sâu xa đến nỗi chỉ cái chết mới có thể chia lìa. Vì thế, tình yêu vợ chồng hướng đến việc kết hợp nên một thân thể (“Người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” – St 2,24; Mt 19,5; Mc 10,8). Chính vì vậy, tình yêu hôn nhân đòi hỏi sự đơn nhất và bất khả phân ly.

2- Tình yêu trao hiến trọn vẹn:
 
Nhờ khả năng tính dục, vợ chồng hiến thân cho nhau qua những hành vi ân ái dành riêng cho họ. Tính dục không chỉ đơn thuần là hành vi sinh lý, mà còn liên can đến những điều thâm sâu nhất của nhân vị. Những hành vi thực hiện sự kết hợp mật thiết của đôi vợ chồng trong giao phối đều cao quý và chính đáng, chúng biểu hiện và khích lệ sự hiến thân cho nhau, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và ơn nghĩa. Sự trao hiến trọn vẹn toàn thể con người dẫn đôi bạn đến sự kết hợp mật thiết với nhau thành một trái tim, một tâm hồn, một cuộc sống. Nhờ sự kết hợp nên một và trao hiến trọn vẹn của vợ chồng, hai mục đích của hôn nhân được thực hiện: lợi ích của chính đôi vợ chồng và lưu truyền sự sống.

3- Tình yêu chung thủy:

Khi nói đến Tình yêu thì không thể quên xuất phát điểm và đích điểm của tình yêu là Thiên Chúa Tình Yêu. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại là một tình yêu vĩnh cửu, bền vững đến vô cùng, thủy chung như nhất, trung tín vô song. Vì thế, tình yêu hôn nhân đòi hỏi hai vợ chồng phải dứt khoát, không được tạm bợ, nghĩa là phải luôn chung thủy với nhau, bởi vì do giao ước hôn nhân, họ không còn là hai, nhưng đã trở thành một thân thể duy nhất. Thiên Chúa đã yêu thương con người bằng một tình yêu vĩnh viễn không lay chuyển. Tình yêu vợ chồng được tham dự vào tình yêu này và được tình yêu này hướng dẫn và nâng đỡ. Nhờ chung thủy với nhau, vợ chồng trở thành chứng nhân cho tình yêu trung tín của Thiên Chúa. Nói đặc tính của hôn nhân là vĩnh hôn chính là vì thế.

4-.Tình yêu sàng tạo sự sống:

Truyền sinh vừa là một ân huệ, vừa là một mục tiêu căn bản của hôn nhân, vì tự bản chất, tình yêu vợ chồng hướng tới việc sinh sản con cái. Con cái không phải là một cái gì được thêm vào từ bên ngoài, mà là hoa quả của tình yêu, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau. Vì thế, mọi hành vi ân ái phải hướng đến việc truyền sinh. Hội Thánh đã minh định: “hành vi ân ái luôn mang hai giá trị bất khả phân ly: kết hợp và truyền sinh”. Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được từ nan, phá vỡ. Vì được mời gọi thông hiệp truyền sinh, đôi vợ chồng tham dự vào quyền năng sáng tạo và tình phụ tử của Thiên Chúa. Trong khi thi hành bổn phận truyền sinh và giáo dục con cái, đôi vợ chồng biết rằng mình được cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa và trở thành như những người diễn đạt tình yêu của Người. Do đó, họ sẽ chu toàn bổn phận trong tinh thần trách nhiệm của một con người (công dân nước trần thế) và một Ki-tô hữu (công dân Nước Trời).

III. Nhiệm vụ của vợ chồng
 
1- Nhiệm vụ của người chồng:
 
Khi dựng nên loài người, Thiên Chúa đã lấy đất nặn thành người nam trước, sau đó vì nhận thấy để người nam ở một mình thì không tốt, Thiên Chúa liền lấy xương sườn người nam để dựng nên một trợ tá; hoàn tất công trình sáng tạo gia đình nhân loại. Do đó, trong gia đình, cộng đoàn hiệp thông giữa các ngôi vị, người nam được mời gọi sống sự tự hiến của mình trong vai trò là chồng và là cha. Qua người vợ, người chồng nhìn thấy ý định của Thiên Chúa được thực hiện: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18). Người chồng sẽ có cùng một tiếng kêu hạnh phúc như A-đam, người chồng đầu tiên: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra” (St 2,23).

Tình nghĩa phu thê đòi buộc người chồng phải thực sự tôn trọng phẩm giá của người vợ. Người chồng phải thực sự trở nên người “bạn đời” (bạn hữu); hơn thế nữa, người chồng còn được mời gọi trở nên người “bạn đạo” (đạo hữu) bằng cách trung tín và chung thủy trong tỉnh yêu thương vợ mình như Đức Ki-tô đã yêu thương Hội Thánh. Khi người vợ đã trở thành người mẹ thì tình yêu đối với con cái là con đường tự nhiên đưa người chồng đến chỗ hiểu biết và thể hiện tư cách làm chồng làm cha của mình. Chỗ đứng và vai trò của người cha trong gia đình có một tầm quan trọng không ai có thể thay thế được.

Khi biểu lộ và sống tình phụ tử của Thiên Chúa, người chồng được mời gọi đứng ra bảo đảm sự phát triển thống nhất của mọi thành phần trong gia đình. Để chu toàn sứ mạng này, người chồng cần phải quảng đại lãnh lấy trách nhiệm đối với sự sống được triển nở từ sự vâng phục của vợ chồng trong sứ mạng cộng tác vời công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Người chồng phải cố gắng giáo dục con cái cùng với vợ mình; công việc ấy sẽ làm cho gia đình được vững mạnh trong sự hiệp nhất và ổn định, trở nên một chứng tá về đời sống Ki-tô hữu trưởng thành, để con cái có được kinh nghiệm sống động về Đức Ki-tô và về Hội Thánh một cách hữu hiệu hơn.

2- Nhiệm vụ của người vợ:
 
Kể từ khi Nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa đã phán cùng con rắn Xa-tan: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Điều đó cho thấy vai trò của người nữ cũng ngang tầm với người nam; trong gia đình, người nữ cũng được mời gọi sống sự tự hiến của mình trong vai trò là vợ và là mẹ. Trước hết, cần khẳng định rằng người vợ bình đẳng với người chồng về phẩm giá cũng như về trách nhiệm. Sự bình đẳng này được thể hiện một cách đặc biệt trong sự hy sinh cho con cái. Một sự trao hiến như thế chỉ có trong hôn nhân và gia đình. Điều con người cảm nghiệm, cũng là điều được mạc khải đầy đủ trong Lời Chúa. Thật vậy, lịch sử cứu độ cho thấy phẩm giá của người phụ nữ luôn luôn được đề cao.

Tại Ca-na, bữa tiệc cưới được nửa chừng thì hết rượu. Tình huống ấy có thể đe doạ hạnh phúc tương lai của đôi tân hôn. May thay, theo lời yêu cầu của Mẹ Maria, Đức Ki-tô đã can thiệp để biến nước thành rượu, thật nhiều và thật ngon (x. Ga 2,1-12). Câu chuyện đã minh họa tính chất đầy hoan lạc nhưng cũng kèm theo biết bao thử thách trong tình yêu vợ chồng. Với phận người yếu đuối, tình yêu giới hạn ấy thật mong manh. Tuy nhiên, ngay cả khi nó đã cạn kiệt, đã thành nhạt như nước lã, Đức Ki-tô vẫn có thể biến nước lã ấy thành rượu ngon một cách hết sức dồi dào. Điều đó cho thấy, như xưa Thiên Chúa đã đến gặp gỡ Dân Người bằng một giao ước yêu thương và trung thành, thì nay Đấng Phu Quân của Hội Thánh, cũng đến với đôi vợ chồng qua bí tích Hôn phối. Người còn ở lại với họ để họ mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau, như Người đã yêu thương Hội Thánh và nộp mình vì Hội Thánh. Gia đình là Hội Thánh tại gia cũng là vì thế.

Kết luận:

Tóm lại, trong đời sống hôn nhân và gia đình, đôi vợ chồng Công giáo được mời gọi noi gương Đức Ki-tô và Hội Thánh để biết sống yêu thương và tôn trọng nhau, sẵn sàng tha thứ cho nhau, cũng như sẵn sàng hy sinh vì lợi ích của nhau và của con cái. Cách riêng, người bạn trẻ Ki-tô hữu ngày hôm nay trước khi gia nhập Hội Thánh tại gia (lập hôn ước) hãy noi gương Tô-bi-a cầu nguyện cùng Đức Chúa, xin cho mình và Xa-ra được hưởng ơn cứu độ (cưới nhau): “Lạy Chúa! Chính Chúa đã dựng nên ông A-đam, dựng nên cho ông một người trợ thủ và nâng đỡ là bà E-và, vợ ông. Và dòng dõi loài người đã sinh ra từ hai ông bà. Chính Chúa đã nói: ‘Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một người trợ thủ giống như nó’. Giờ đây, không phải vì lòng dục, mà con lấy em con đây, nhưng vì lòng chân thành. Xin Chúa đoái thương con và em con cho chúng con được chung sống bên nhau đến tuổi già” (Tb 8,6-7)

Ôi! “Lạy Chúa, là Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Chúa đã muốn kết hợp hai người nam nữ bằng hôn ước để họ suốt đời gắn bó yêu thương và sống hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng, để nhờ cuộc hôn nhân thánh thiện con cái Chúa ngày thêm đông đảo. Thật vậy, nhờ Chúa dự liệu và ban ơn, Chúa đã làm nên hai điều kỳ diệu: là cho đôi bạn sinh con cái để trần gian được tăng vẻ huy hoàng và cho con cái họ được tái sinh để Giáo Hội càng thêm phát triển, nhờ Ðức Ki-tô Chúa chúng con. Amen” (Kinh Tiền tụng lễ Hôn Phối).
---------------------------------------------------------
 

CA DAO HÔN NHÂN
 

  Tình yêu vẫn đẹp như xưa
Nồng nàn bồi đắp phù sa nghĩa tình
Ngày nào hai đứa chúng mình
Nhìn nhau bẽn lẽn, nụ tình ấp e
Bây giờ tuổi tác già nua
Tình yêu vẫn trẻ như xưa ngày đầu
Bên nhau hạnh phúc tự hào
Hôn nhân là khúc ca dao trọn đời
Sự gì Chúa kết hợp rồi
Thắm thiết suốt đời, không thể phân ly (*)
-----------------------------------------------------------
(*) Mt 19,6; Mc 10,9

HƯƠNG VỊ HÔN NHÂN

 
Gừng cay và muối mặn hoài
Cay nhân nghĩa, mặn tình đời phu thê
Thương em vẫn khéo như xưa
Thương anh chung thủy cho vừa hôn nhân
Vết nhăn là dấu mùa Xuân
Bao năm tình nghĩa vuông tròn với nhau
Tình mình như khúc ca dao
Cay tình, mặn nghĩa, ngọt ngào yêu thương
Trăm năm một chuyến tựa nương
Trọn lòng như Chúa dạy chung chuyến đời (*)
 
TRẦM THIÊN THU
 
-------------------------------------------------------------
(*) "Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly" (Mt 19,6; Mc 10,9).
 Trở về
Các bài viết khác:
VẤN ĐỀ LY HÔN (12/03 06:12:19 AM)
BÍ QUYẾT CHỌN VỢ (24/02 03:35:56 AM)
CHIẾC XƯƠNG SƯỜN (23/02 04:20:36 AM)
CHUẨN BỊ HÔN NHÂN (09/02 20:38:45 PM)
GỢI Ý GIÁO DỤC TRẺ (07/02 22:45:52 PM)