Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 19 tháng 8 năm 2017

 Suy niệm - Chia sẻ: Lời Chúa - Các bài khác
(06/03/2017 20:25 PM)
Chia sẻ tin:
ĐAU KHỔ VÀ HẠNH PHÚC

CHÚA NHẬT II  MÙA CHAY NĂM A (12/03/2017)
  [St 12,1-4a; 2 Tm 1,8b-10; Mt 17,1-9]

http://www.segodnya.ua/img/forall/users/576/57667/4_5768.jpg

Cuộc đời thừa đau khổ nên không ai muốn tìm kiếm nó, cuộc đời thiếu hạnh phúc nên ai cũng nỗ lực tìm kiếm nó. Đau khổ và hạnh phúc là hai thứ đối lập. Không thể tránh né đau khổ, nhưng vẫn có thể tìm thấy hạnh phúc. Một cách đơn giản để sống hạnh phúc là trân trọng những gì mình đang có. Đau khổ là vấn đề bao la, và hạnh phúc là vấn đề mông mênh… Không thể có định nghĩa chính xác cho cả hai vấn đề này, chỉ có thể định nghĩa hạnh phúc theo một lĩnh vực hoặc một phương diện nào đó.

Hạnh phúc liên quan tự do: Làm công việc mình thích, đó là TỰ DO; thích công việc mình làm, đó là HẠNH PHÚC. Người ta có thể chỉ làm việc bình thường nhưng lại có thể nhờ đó mà trở nên phi thường. Những người chỉ nghĩ đến bản thân mình và tìm lợi ích cho riêng mình thì chẳng bao giờ có được hạnh phúc đích thực!

Văn thi sĩ William Arthur Ward (1921-1994, Hoa Kỳ) nói: “Người khôn ngoan là người học được những sự thật này: Rắc Rối là tạm thời, Thời Gian là thuốc bổ, Đau khổ là ống nghiệm”. Đau khổ lớn nhất của con người chính là cái chết. Văn sĩ trào phúng Mark Twain (1835-1910, Hoa Kỳ) đặt vấn đề: “Tại sao chúng ta lại vui mừng trước sự chào đời và thương tiếc ở lễ tang? Bởi vì chúng ta không phải là đương sự”.

Chúng ta biết chắc rằng hạnh phúc luôn là niềm mơ ước suốt cuộc đời của mọi người – bất luận nam, phụ, lão, ấu. Mưu cầu hạnh phúc là mơ ước chính đáng và là quyền cơ bản của con người. Hạnh phúc đa dạng, với nhiều mức độ. Hạnh phúc ở gần chứ không xa. Tuy nhiên, hạnh phúc cũng dễ khiến người ta ảo tưởng nếu đòi hỏi thái quá. Cũng như tình yêu, chẳng ai có thể định nghĩa chính xác thế nào là hạnh phúc. Tất cả chỉ là tương đối.

Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc cao cấp của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Hạnh phúc mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí, là cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả,... như mình mong ước. Nhưng sự khác nhau nằm ở tính hữu hình hoặc vô hình của giá trị, của mục đích, của kết quả đạt được về nhiều lĩnh vực: tình yêu, thành công, nổi tiếng, giàu có,... Hạnh phúc và sung sướng có nghĩa gần giống nhau, hạnh phúc hiểu theo nghĩa tinh thần, trừu tượng; sung sướng hiểu theo nghĩa vật chất, cụ thể.

Tuy nhiên, nếu muốn có hạnh phúc thì phải đi tìm. Đi tìm hạnh phúc không phải là sẽ “nhặt” được nó như nhặt được một vật thể, cũng không thể ngồi chờ sung rụng, mà phải chủ động “tạo” ra nó. Nghĩa là chấp nhận với những gì mình có hiện tại thì sẽ có hạnh phúc. Hạnh phúc là không đòi hỏi. Thế nhưng không hề dễ thực hiện được động thái “chấp nhận” như vậy!

CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ…

Bác học Thomas Alva Edison (1847-1931, người Mỹ) được coi là một thiên tài, nhưng ông kết luận: “Thiên tài là một phần trăm cảm hứng và chín mươi chín phần trăm mồ hôi. Tôi chưa hề thất bại, mà tôi chỉ tìm ra mười ngàn cách không tác dụng”. Có vất vả mới biết thế nào là thảnh thơi, có đau khổ mới biết thế nào là hạnh phúc. Cũng như có bị tù đày rồi mới nhận thức được tự do và biết quý tự do. Có gian nan vất vả mới nên người, thành nhân tài. Chính đau khổ là “chất xúc tác” cho những tác phẩm giá trị. Càng dày kinh nghiệm thì tác giả càng có được những tác phẩm hay. Những người giỏi đều là những người đã từng vật lộn với cuộc sống khó khăn vô cùng. Giàu có và sung sướng không tạo nên vĩ nhân, như cụ Nguyễn Công Trứ (có người cho là của cụ Phan Bội Châu) đã đặt vấn đề: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả / Anh hùng hào kiệt có hơn ai?”. Chúng ta thường nói rằng “thất bại là mẹ thành công”, nhưng có lẽ đó chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi hoặc nói để “lên lớp” người khác, còn chính mình thì run cầm cập trước đau khổ và thất bại.

Thời Cựu Ước, Đức Chúa nói rõ với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12:1-3). Cái nơi “xa vời” đó được gọi là Đất Hứa – miền đất trù mật được Thiên Chúa  sắp sẵn cho ông.

Thật là “căng” lắm đấy! Cuộc sống đang ổn định, an cư lạc nghiệp, đùng một cái phải chuyển đến nơi xa lạ, chẳng biết thế nào, liệu chúng ta có dám đi không? Khi muốn tìm nơi lập nghiệp, ai cũng thăm dò trước xem có thể thuận lợi hay không chứ chẳng ai dám “nhắm mắt đưa chân”. Người ta ví von: “Ba lần dời nhà bằng một lần cháy nhà”. Chắc chắn là rất khó mà dám bước chân ra đi, bởi vì giằng co dữ dội và cần phải can đảm để có thể dứt khoát ngay.

Cũng vẫn khó ra đi dù biết rõ nơi đến như thế nào – phải ra đi vì đất quy hoạch, bị giải tỏa, có nguy cơ bão lũ hoặc động đất,… huống chi ra đi mà không biết nơi đó ra sao, ngày mai thế nào. Vậy mà “ông Áp-ram ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông” (St 12:4a). Không chỉ vậy, khi rời Kha-ran, “ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi” (St 12:4b) chứ đâu còn trẻ trung gì nữa. Quả thật, đức tin của ông lớn quá! Vì thế ông được đổi tên Áp-ram thành Áp-ra-ham, nghĩa là “người cha vĩ đại của muôn dân tộc” (Hc 44:19).

Hoàn toàn tín thác và vâng lời ra đi theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa, “ông Áp-ram đem theo vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó” (St 12:5). Tổ phụ Áp-ra-ham ra đi vì ông hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa quan phòng và tiền định, đồng thời ông cũng vâng lời tuyệt đối. Thật vậy, Kinh thánh đã xác định: “Đức vâng lời trọng hơn của lễ” (x. 1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Vì vâng lời vô điều kiện, không hề so đo, ông an tâm và vui vẻ, tức là ông cảm thấy hạnh phúc. Niềm hạnh phúc của người biết tín thác vào Thiên Chúa luôn miên man và lâng lâng khó tả, chắc chắn là như vậy. Đứa bé hoàn toàn vô tư và hồn nhiên khi ở bên mẹ!

Như chúng ta đã biết, một khi Thiên Chúa hứa bất cứ điều gì thì luôn chắc chắn, luôn giữ đúng lời, vì đó là luật, Ngài làm luật nên Ngài tôn trọng luật, như Chúa Giêsu nói: “Trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết của Lề Luật rụng mất” (Lc 16:17). Tương tự, tác giả Thánh Vịnh cũng đã trải nghiệm cuộc sống trên hành trình đức tin và chân thành chia sẻ: “Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Tv 33:4-5). Thật vậy, “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4, 29; Tv 136:1-26).

Kinh Thánh xác định “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16) và là “Đấng giàu lòng thương xót” (Ep 2:4). Ngài luôn quan tâm thụ tạo mà Ngài đã dựng nên: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì” (Tv 33:18-20). Tác giả Thánh Vịnh bộc bạch với cả niềm thành tín: “Vâng, có Người, chúng tôi mừng rỡ, vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh” (Tv 33:21). Tin tưởng nên sẵn sàng vâng lời, vâng lời hành động thì sẽ an tâm và được nếm vị hạnh phúc.

Tuy nhiên, mặc dù nhận biết Thiên Chúa tận tình như vậy, chúng ta không được ỷ lại, mà vẫn phải không ngừng cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22). Tương tự, câu “xin Cha tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” nghĩa là chúng ta trông cậy ở mức nào thì được nhận lòng thương xót như vậy, chúng ta tha thứ cho người khác ra sao thì được nhận ơn tha thứ như thế. Đó là công bình, là công lý, và cũng là chân lý. Không thể CHO ít mà đòi NHẬN nhiều. Thiên Chúa không bao giờ “bù lỗ” cho ai theo kiểu đó, nghĩa là không có chuyện “ngồi mát ăn bát vàng”.

Thánh Phaolô ân cần căn dặn: “Anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (2 Tm 1:8). Tuy nói với Ti-mô-thê, nhưng cũng là lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta. Chắc chắn mọi người, không trừ ai, đều phải nỗ lực ngày đêm!

Nhưng mà tại sao lại phải nỗ lực làm chứng như vậy? Đơn giản thôi, vì đó là lý do tất yếu. Thánh Phaolô cho biết: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, KHÔNG PHẢI vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do KẾ HOẠCH và ÂN SỦNG của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10). Ôi, thật là chí lý và thấm thía quá chừng!

Trên hành trình đức tin ở trần gian, nếu thực hiện được như vậy thì chúng ta chắc chắn sẽ được tận hưởng niềm hạnh phúc trong Đức Kitô, được trường sinh và vĩnh cư trong Vương Quốc Hằng Sinh của Thiên Chúa. Đó chính là niềm hạnh phúc miên viễn và tuyệt đối, mục đích cuối cùng của mọi Kitô hữu!

…ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC

Có tài mà không khổ luyện cũng vô ích. Thiên tài thần đồng âm nhạc Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791, Áo quốc) cũng chỉ “lên tay” sau khi trau giồi thêm về chuyên môn. Ai khổ luyện thì sẽ thành tài. Vất vả trồng cây thì sẽ có ngày hưởng trái ngọt. Đó là quy luật chung muôn thuở, như người Việt cũng nói: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Đó là điều tất nhiên và hoàn toàn hợp lý!

Sáu ngày sau khi Đức Giêsu nói về cuộc thương khó, Ngài đem theo các đệ tử thân tín nhất là Phêrô cùng với hai anh em Giacôbê và Gioan. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng. Các ông chưa hết ngỡ ngàng thì bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài. Lạ quá chừng luôn!

Hạnh phúc là đây. Và quá hưng phấn, ông Phêrô thưa ngay với Thầy Giêsu mà không cần so đo tính toán chi cả: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia” (Mt 17:4). Ông không hề nhắc tới việc làm lều cho ba anh em, nghĩa là sao cũng được, ở giữa “khách sạn ngàn sao” cũng vẫn tốt, miễn sao cứ vui hưởng hạnh phúc thế này là được thôi. Các ông được sống trong niềm hạnh phúc khôn tả đó là được nếm thử hạnh phúc Nước Trời, nhờ đó mà đủ sức chịu cực khổ ở trần gian này.

Sự lạ và điều kỳ diệu đan chéo vào nhau. Chưa hết ngạc nhiên này lại có ngạc nhiên khác. Và một lần nữa, các ông lại tròn mắt chữ O và tròn miệng chữ A. Ngạc nhiên nhưng mà rất thú vị. Sướng rơn! Ngay khi ông Phêrô còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ họ, và có tiếng vọng ra từ đám mây phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17:5). Trước đó không lâu, sau khi Thánh Gioan Tẩy giả làm Phép Rửa cho Chúa Giêsu tại sông Giođan, Thiên Chúa Cha cũng đã xác nhận tương tự về Đức Kitô Giêsu, Con Yêu Dấu của Ngài: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3:17).

Nhưng lần này thì khác hẳn, khác lắm. Vừa mới nghe như vậy thì các ông liền kinh hoàng và ngã sấp mặt xuống đất. Chu choa, hết hồn luôn! Thế nhưng chẳng ai làm sao, không xây xát chút nào, mặc dù té lăn cù trên đá sỏi lởm chởm như thế. Lạ hết sức!

Thấy các đệ tử như vậy, Đức Giêsu lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17:7). Các ông ngước mắt lên, và không còn nhìn thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giêsu mình ên đứng ngay đó. Mèn ơi, kỳ lạ thật đấy, chả hiểu gì ráo trọi!

Sau đó, khi Thầy trò trên đường từ núi xuống, Đức Giêsu nói với họ: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17:9). Các ông im lặng nhưng chắc là gãi đầu miết thôi, bởi vì chả hiểu át giáp gì cả, thế nhưng các ông cũng không dám hỏi Thầy, dù chỉ nửa lời. Kỳ diệu lắm, lạ lùng vô cùng, nhưng chắc chắn họ cũng cảm thấy “đã” lắm!

Niềm hạnh phúc ở trên đỉnh Ta-bor liên quan nỗi sầu thương trên đỉnh Can-vê. Cuộc sống nhân gian cũng vậy, không thể ngồi rung đùi rồi đòi bổng lộc. Các môn đệ cũng đã từng đặt vấn đề rằng họ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu, thế nên họ muốn có quyền lợi gì đó tương xứng. Chúa Giêsu nói: “Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Mc 10:29-30). Ta-bor và Can-vê không thể tách rời!

Trong các Phúc Âm nhất lãm, chỉ có Thánh Mác-cô đề cập “sự ngược đãi” trong phần nói về vấn đề này. Văn phong của Thánh Mác-cô có nét đặc thù là “trực tiếp, cụ thể, và sống động”. Người ta chỉ chú ý đến được cái này, hưởng cái nọ, nhưng có lẽ ít người lưu ý tới “sự ngược đãi” kèm theo các “bổng lộc” kia. Đừng quên rằng chính đau khổ cũng là phần thưởng mà Chúa Giêsu muốn trao cho những ai đi theo Ngài.

Hồng ân Thiên Chúa dạt dào
Khổ đau, hạnh phúc, u sầu, mừng vui,…
Đều là ơn Chúa mà thôi
Con xin cảm tạ suốt đời nhân gian!

Một bản nhạc không chỉ có những nốt nhạc, mà có cả những dấu lặng. Các nốt nhạc và các dấu lặng cũng có những trường độ khác nhau. Có thể coi các nốt nhạc là những “khoảng” hạnh phúc (với các cao độ khác nhau), còn các dấu lặng là những “khoảng” đau khổ. Các nốt-nhạc-hạnh-phúc liên kết với các dấu-lặng-đau-khổ để dệt nên bản-nhạc-cuộc-đời của mỗi chúng ta.

Lạy Thiên Chúa chí thánh chí ái, cúi xin Ngài tha thứ cho con về những điều con mơ ước mà không hợp Ý Ngài, xin chấn chỉnh nếp nghĩ của con cho đúng đường lối công minh của Ngài. Xin ban thêm ba nhân đức đối thần để con đủ sức vượt qua mọi trở ngại trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc đích thực là chính Ngài. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của nhân loại. Amen.

TRẦM THIÊN THU


GIÁ TRỊ ĐAU KHỔ

Sợ khổ và sợ chết có thể là các điều bí ẩn không thể vượt qua. Nhưng đó là những điều không cần vượt qua. Không có niềm tin nào loại trừ chúng ta khỏi kinh nghiệm đau khổ, cô đơn, và chết chóc. Tiền bạc, quyền lực, và mọi thứ trên thế gian này thường làm cho thêm tệ hại hơn mà thôi.

Theo thiển ý của tôi, tôi bắt đầu thắc mắc lời của Cô-he-lét (Qoheleth) có tiêu cực hay không: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân” (Gv 1:2). Những thứ trần tục này, dù điều đó tốt hay xấu, sẽ qua đi mà thôi. Nhưng điều này không làm giảm nhẹ nỗi sợ khổ và sợ chết. Mặc dù chúng qua đi, chúng vẫn bám theo chúng ta suốt đời.

Đối với tôi, bí ẩn này chỉ có thể giải quyết bằng Thập Giá. Đối với tôi, thập giá là nền tảng của thần học. Thập giá là khoảnh khắc hóa thân mà tình yêu và đau khổ gặp nhau . YÊU vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8 và 16), và KHỔ vì phàm nhân ảnh hưởng bởi tội lỗi và sự chết (St 3:16). Đức Kitô đã tự chấp nhận tình trạng của loài người. Khi mô tả điều này trong ngôi vị của Ngài, tôi tin điều đó được hoàn tất nhờ sự hy sinh của Ngài. Chỉ trong cái chết của Ngài trên Thập Giá mà thôi: “Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:19-20).

Tại sao tôi tiếp cận thần học này?

Thứ nhất, nếu Đức Kitô chấp nhận mặc xác phàm, Ngài cũng hoàn toàn chấp nhận mọi đau khổ, cô đơn, và cái chết. Ngài không tránh né, nhưng chịu đựng và trải nghiệm một cách trọn vẹn. Như vậy, bất kỳ sứ vụ nào được Chúa Giêsu linh hứng đều là sứ vụ vui vẻ đón nhận và trải nghiệm trọn vẹn thân phận con người.

Thứ nhì, nếu Đức Kitô không hòa giải mọi loài với Ngài thì sao? Nếu vậy, Ngài cũng không hòa giải những gì là hèn hạ đối với sự hiện hữu của phàm nhân chúng ta. Như vậy, gặp phải điều hèn hạ, ghê tởm và phiền toái là cơ hội để chúng ta gặp gỡ Đức Kitô trong tình trạng cao thượng, tốt đẹp và vui mừng. Không có sự phân biệt nào trong những gì Chúa Giêsu đã đưa vào bản tính nhân loại của chúng ta. Ngài trở nên giống như chúng ta hoàn toàn, ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4:15).

Như vậy, tôi cố gắng tiếp cận thần học Công giáo về sự đau khổ. Cách thứ nhất là quan điểm của Công giáo về đau khổ, nói đúng hơn là đau khổ mang tính cứu độ, có giá trị cứu độ.

Có nghĩa gì khi nói đau khổ có giá trị cứu độ? Chỉ có điều này: Đau khổ của chúng ta được kết hợp với đau khổ của Đức Kitô trong sứ vụ cứu độ. Sao lại như vậy? Đức Kitô đã “kết hôn” với Giáo hội là Hiền Thê của Ngài, và “cả hai thành một xương một thịt” (St 2:24). Hơn nữa, “có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người” (Ep 5:29-30). Qua Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được liên kết với Đức Kitô và Giáo hội.

Chúng ta được kết hiệp với Nhiệm Thể Đức Kitô để chúng ta nên MỘT với Ngài. Thánh Phaolô nói: “Mầu nhiệm này thật cao cả: Đức Kitô và Giáo hội” (Ep 5:32). Kinh Thánh nói rằng khi Saolê bắt bớ những người theo Đức Kitô, Chúa Giêsu đã nói: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”. Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?”. Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9:4-5). Cuối cùng, Thánh Phaolô đã chấp nhận tất cả: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1:24).

Đức Kitô đã ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ để thực hiện sứ vụ cứu độ cả thế giới và mọi thời đại. Giáo hội được trở thành Tân Nương và chính Ngài là Đầu của thân mình. Chúng ta là các chi thể trong Nhiệm Thể Ngài. Chúng ta thông phần đau khổ với đau khổ của mọi người và của chính mình. Đức Kitô đồng hóa với chúng ta, nhất là với những người đau khổ: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40). Vậy tại sao chúng ta lại không muốn đồng hóa với Ngài?

Đức Kitô mặc lấy nhân tính để cứu độ nhân loại, tôi chắc chắn Ngài cũng cứu độ sự đau khổ. Đau khổ mà chúng ta trải qua có thể được kết hiệp với Đức Kitô ngay cả sau khi sự phục sinh được giải thích cho Saolê rằng “chính Ngài đang bị bắt bớ”. Đau khổ của Đức Kitô vẫn tiếp diễn trong Nhiệm Thể của Ngài là Giáo hội, vì chúng ta sống trong một thế giới được cứu độ nhưng chưa được cứu thoát. Kết hiệp đau khổ của chúng ta với đau khổ của Đức Kitô là chúng ta chịu đau khổ vì Nhiệm Thể Đức Kitô (x. Cl 1:24).

Thật ra “Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ” (Dt 7:27b). Như vậy, chúng ta cũng phải “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12:1). Nghĩa là tôi trải nghiệm chính mình và người khác cũng được hưởng ơn cứu độ của Đức Kitô dành cho người chịu đau khổ (và cả tôi nữa). Khi tôi thông phần đau khổ của người khác, tôi cố gắng thông phần đau khổ của Đức Kitô và của chính mình.

S.O.S., lạy Thầy Giêsu, con tín thác nơi Ngài, xin cứu độ và cứu thoát con!

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ IgnitumToday.com)
 Trở về
Các bài viết khác:
TÌNH MẸ THƯƠNG CON (19/08 07:28:10 AM)
MỘT ĐỨC TIN TUYỆT VỜI (16/08 18:53:27 PM)
KIÊN TÂM VỮNG CHÍ (14/08 19:07:03 PM)
TRÊN BIỂN ĐỜI (09/08 03:04:18 AM)