Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 25 tháng 9 năm 2017

 
(16/08/2017 18:58 PM)
Chia sẻ tin:
NIỀM TIN SẮT ĐÁ CỦA MỘT DÂN NGOẠI

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN NĂM A (20/08/2017)
[Is 56,1,6-7; Rm 11,13-15.29-32; Mt 15,21-28]

  http://www.b2bm.org/wp-content/uploads/2015/04/%EC%98%88%EC%88%98%EB%8B%98%EC%9D%98-%EB%B0%9C%EC%95%84%EB%9E%98-%EC%97%8E%EB%93%9C%EB%A6%B0-%EA%B0%80%EB%82%98%EC%95%88-%EC%97%AC%EC%9D%B8-690x350.jpg
 
Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật câu chuyện một người đàn bà từ Ca-na-an (miền Tia và Xi-đon) tới gặp Đức Ki-tô, xin Người chữa bệnh cho con mình. Miền đất quê của bà vốn được người Do-thái coi là dân ngoại. Lần thứ nhất bà cầu xin, nhưng Đức Ki-tô không trả lời. Với một niềm tin vững vàng, bà lại tiếp tục năn nỉ. Các môn đệ có vẻ không hài lòng về bà và xin Đức Ki-tô đuổi bà ấy đi, thì Người đáp: "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi" (Mt 15,24). Câu nói này của Đức Ki-tô gián tiếp cho mọi người biết bà ấy là dân ngoại; và để thử lòng tin của bà, Người nói thẳng với bà ấy: "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con" (Mt 15,26). 

Với câu trả lời này, nếu chỉ thoáng nghe và không suy nghĩ thì không thấy ăn nhập gì với chuyện chữa bệnh cho con của bà ta. Nhưng nếu suy nghĩ sâu hơn một chút, thì sẽ thấy Đức Ki-tô ví việc chữa bệnh như đem bánh cho người ta ăn và bánh đó không được cho lũ chó con. Bà bị coi như chó (dân ngoại) và nếu giả thử gặp cỡ các kinh sư hay Pha-ri-sêu chắc chắn sẽ phản ứng rất mạnh. Nhưng bà này vẫn không buồn rầu bỏ đi, mà nhất định ở lại cầu xin cho bằng được. Lời cầu xin quả thật khiêm tốn và tin tưởng: "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống" (Mt 15,28). Tuyệt vời!

Phải nói rằng bà này là típ người rất thông mình. Nếu không hiểu biết, bà sẽ thấy lời của Đức Ki-tô không dính dáng gì tới việc bà cầu xin, và sẽ xảy ra hai trường hợp: Một là thấy người mình cầu xin không hiểu được ý mình. Đã không hiểu được mình, thì cầu xin cũng vô ích, bỏ đi cho rảnh. Trường hợp thứ hai, sẽ cho là Đức Ki-tô không nghe rõ lời cầu xin nên mới nói về bánh, và nếu còn tin tưởng, bà ta sẽ cứ một mực xin Người chữa bệnh cho con mình. Cả 2 trường hợp đều không đúng với bà, vì bà đã hiểu ngay Lời dạy của người mà bà tin tưởng. Không dám xin ăn bánh trực tiếp, mà chỉ khiêm tốn xin được ăn những mảnh vụn rơi vãi.

Thêm một đức tính đặc biệt của bà nổi bật lên: Dù có bị coi là chó, bà cũng xin vâng, vì bà nghĩ rằng Người mà bà đang cầu xin đích thị là Đấng Quyền Năng, là Thiên Chúa. Là Thiên Chúa mà chấp nhận xuống phàm trần làm một con người bình thường như bao người khác, thì mình có bị coi là chó cũng xứng đáng thôi. Đức tình khiêm tốn tuyệt vời ấy chắc chắn không thể có được nơi những thượng tế, những kinh sư, luật sĩ, những Pha-ri-sêu, những con người vẫn luôn miệng nói “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” và tự coi mình mới là “hàng nội” chính tông, là con dòng cháu giống của Thiên Chúa; những con người luôn kiêu ngạo tự cho mình là đệ nhất thông minh và chỉ thích được “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy” (Mt 23,2) thiên hạ. Vậy đó!

Thông minh nhưng khiêm tốn, người đàn bà Ca-na-an đã khiến Đức Giê-su Thiên Chúa chạnh lòng thương, buột miệng khen ngơi: "Này bà, lòng tin của bà mạnh thật". Và thế là: "Bà muốn sao thì sẽ được vậy". Từ giờ đó, con gái bà được khỏi" (Mt 15,28). Quả thực, bài học rút ra được ở đây là đức tính khiêm nhường, đức tính đứng hàng đầu trong bảy đức tính căn bản của Ki-tô giáo. Phải luôn nghĩ rằng tất cả những gì con người có được nơi trần thế đều là ân sủng của Thiên Chúa ban tặng. Những ân sủng đó Thiên Chúa ban cho mỗi người mỗi khác là vì ích chung (x. 1 Cr 12,7). Không tự kiêu, tự mãn khi mình có được sự thông minh hơn người, hoặc có được những đặc ân khác những người xung quanh; nhưng cũng không tự ti mặc cảm khi thấy mình không có được những ân sủng như những người khác.

Tuy nhiên, bài học lớn nhất, bao trùm lên tất cả là đức tin của người đàn bà Ca-na-an. Bà thực sự tin tưởng Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ; và bà vững tin rằng Thiên Chúa không thiên vị một ai, không phân biệt “nội hay ngoại”, nếu chân thành cầu xin với một niềm tin vững vàng, thì dù xin gì, Người cũng sẽ ban cho. Bà không chỉ tin ở trên môi miệng, mà chính là ở chỗ đối diện với thử thách nghiệt ngã (bị dân Do-thái coi là dân ngoại và chính Người mà bà tin tưởng mãnh liệt nhất lại coi bà và con gái bà là chó), vậy mà bà vẫn trung kiên với niềm tin của mình.

Với một người chưa được coi là Ki-tô hữu, mà đã có một niềm tin sắt đá như vậy, thiển nghĩ cũng rất đáng xấu hổ cho những người đã được coi là Ki-tô hữu (đã nhận lãnh Phép Rửa) mà chỉ hơi chạm đến tự ái, hoặc chỉ mới phỏng đoán mình sẽ bị “thử lửa”, đã vội vàng chối bỏ Chúa của mình một cách ngon lành. Hoá cho nên, chính trong cuộc sống đời thường, trong gian truân thử thách, trong tất cả mọi nghịch cảnh, người Ki-tô hữu vẫn sống đức tin một cách chân thực, không màu mè sáo rỗng, như bà mẹ người Ca-na-an trong bài Tin Mừng, ấy mới thực sự xứng đáng với danh hiệu mà Đức Giê-su Ki-tô đã ban tặng: Ki-tô hữu (“Thầy không gọi anh em là tôi tớ, mà gọi anh em là bạn hữu” – Ga 15,15).

Cho đến hôm nay, phần đông người Công Giáo Việt Nam vẫn giữ được đời sống đức tin rất tốt, được cụ thể hóa qua việc tham dự Thánh Lễ cũng như lãnh nhận các bí tích. Tuy nhiên, đời sống đức tin ấy nhiều khi chỉ là những thói quen do ảnh hưởng của gia đình, xứ đạo hơn là một chọn lựa và dấn thân cá nhân. Một đức tin như thế sẽ khó lòng đứng vững trong khung cảnh đô thị hóa và xã hội hóa đang và sẽ diễn ra mỗi ngày một nhanh hơn. Vì thế, cần xây dựng một đức tin mang tính cá vị, hiểu như một chọn lựa tự do và ý thức trước tiếng gọi của Thiên Chúa. Ấy cũng bởi vì “Đức tin là lời đáp trả của con người toàn diện trước tiếng gọi của Thiên Chúa” (Thánh Au-gus-ti-nô).

Con người toàn diện bao gồm cả lý trí, tình cảm, ước muốn và hành động. Vì thế, để sống đức tin, người Ki-tô hữu không chỉ ngừng lại ở những hiểu biết thuần lý, nhưng phải bước vào hành động – hành động và liên lỉ cầu nguyện – bởi vì “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,17). Vâng, nhờ cầu nguyện, chúng ta gặp gỡ chính Đấng mà chúng ta tin. Và niềm tin đích thực được thể hiện qua đời sống hằng ngày là "chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa, đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người." Hệ quả tất yếu sẽ là “ai giữ lời Người dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo. Căn cứ vào đó, chúng ta biết được mình đang ở trong Thiên Chúa.” (1 Ga 2, 3.5). Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.
 Trở về