Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 28 tháng 4 năm 2017

 Chương trình học Thủ bản
(24/01/2011 13:06 PM)
Chia sẻ tin:
THÁNH PHAOLO -  CON NGƯỜI CỦA ĐỐI THOẠI  
  
           Phaolo khi ấy còn gọi là Saule  đang trên đường đi đến Damat để bách hại Đạo thì bất ngờ có luồng sáng từ trời chiếu xuống khiến ông ngã ngựa, đồng thời có tiếng phán “ Saule, Saule sao ngươi tìm bắt Ta. Người hỏi thưa Chúa Chúa là ai / Có tiếng đáp  Ta là   Giesu mà ngươi đang  bắt bớ đây. Hãy đứng dậy vào thành có người sẽ tỏ cho ngươi biết việc phải làm” Cv 9, 4 – 6 ).  Cuộc trở lại của Phaolo là một biến cố có ảnh hưởng quyết định không những chỉ cho mình mà còn cho cả giáo hội từ đó đến nay. Chính Đức Kito đã mạc khải cho Anania về vai trò của Phaolo khi ông này ngần ngại không muốn đến gặp con người một thời đã từng ruồng bắt mình và đồng đạo “ Cứ đi đi vì người đó là khí cụ mạnh lựa chọn của Ta để đem Danh Ta ra trước dân ngoại, các vua chúa quan quyền và con cái nhà Itsraen. Ta cũng sẽ tỏ cho người biết cần phải chịu nhiều nỗi khổ vì Danh Ta” Cv 9, 15 – 16 ) Nhận lãnh sứ mạng rao giảng Tin Mừng để rồi vui lòng chịu mọi khổ đau, đó là cuộc đời tông đồ của Phaolo đồng thời cũng là của tất cả những ai đã và đang dấn bước  trên con đường chứng nhân cho Chúa. Chính Đức kito Phục Sinh đòi hỏi các môn đệ  phải là những người chứng “ Các ngươi sẽ là chứng nhân cho mọi việc đó” Lc 24, 48. Mọi việc cần làm chứng đó là  những việc Chúa đã làm, đã giảng dạy như có lần Ngài nói với các môn đệ của  Gioan Baotixita “ Hãy về thuật lại cho Gioan điều các ngươi nghe và thấy, kẻ mù được sáng, kẻ què được đi, kẻ phong được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại và kẻ nghèo được nghe rao giảng Tin Mừng” Mt 11, 4 – 5 ).
 
          Ở đây ta thấy các môn đệ của Gioan phải về thuật lại cho thầy mình hai điều. một là những việc làm của Chúa như cho kẻ mù được sáng, kẻ chết sống lại….và hai là rao giảng Tin Mừng. Trong hai điều này thì chính là việc rao giảng Tin Mừng  đã khiến  Đức Kito bị chống đối kịch liệt “ Người Do Thái lại lấy đá để ném Ngài. Chúa Giesu phán = Ta do Cha mà tỏ nhiều việc lành cho các ngươi, vậy vì việc nào trong đó mà các ngươi lại ném đá Ta ? Người Do Thái đáp rằng ấy chẳng phải vì mọi việc lành mà chúng ta ném đángươi đâu nhưng vì ngươi  lộng ngôn, là người mà lại dám tự tôn là ThiênChúa” Ga 10, 31 – 33 ) Người Do Thái muốn giết Chúa cho bằng được vì cho rằng Ngài  lộng ngôn phạm thượng và đây cũng là lý do, là chứng cớ duy nhất khiến cho thượng tế Cai pha nổi cơn lôi đình và khép án tử cho Ngài “ Thầy tế lễ thượng phẩm bèn xé áo mình mà rằng, nó đã lộng ngôn, chúng ta còn cần chứng cớ gì nữa ? kìa các ngươi vừa nghe lời lộng ngôn đó, các ngươi nghĩ thế nào ? Chúng đáp = nó thật đáng tội chết” Mt 26, 65 – 66).
 
          Kinh Thánh đã nêu rất rõ về nguyên nhân cái chết của Chúa Giesu. Thế nhưng cho đến nay Thần học vẫn còn bất nhất và rất chi mù mờ “ Lý do sâu xa của  sự xung đột đưa tới bản án Đức Giesu là cách cư xử của ngài, tự đặt mình trên lề luật và tự nhận có uy quyền như Thiên Chúa “ Tội phạm thượng”. Đức Giesu phạm thượng đối với lề luật được coi như tiêu chuẩn tuyệt đối của ơn cứu độ, xúc phạm đến lề luật là xúc phạm đến Thiên Chúa” ( Lm B.V.Đọc – Đức Giesu Kito hôm qua hôm nay và mãi mãi). Như vậy lý do khiến Chúa Giesu phải chết  là vì đã phạm thượng và phạm thượng đến lề luật. Từ đó  đưa đến lập luận thế này “ Hoặc Đức Giesuphạm thượng hoặc lề luật Cựu ước không còn giá trị” ( Sđd ). Nên nhớ  Chúa đến không phải để phá nhưng là để làm tròn lề luật “ đừng tưởng Tađến để phá lề luật bèn là để làm trọn” mt 5, 17). Chúa Giesu  bị người Do Thái giết  không phải  vì Ngài đã…phạm thượng với  lề luật hay  với Thiên Chúa  nhưng  bởi  vì  họ cho rằng  Ngài chỉ là người  mà  lại dám xưng  mình là Thiên Chúa. Thế nhưng thật sự thì Đức Kito chưa  bao giờ xưng mình là Thiên Chúa  mà chỉ nhận mình là  Con,  còn  Thiên Chúa là Cha. Chẳng những Chúa Giesu nhận mình là Con  mà Ngài còn  trích dẫn Kinh Thánh  cho thấy hết thảy mọi người cũng đều là Con Thiên Chúa “ Trong sách luật của các ngươi há chẳng chép rằng Ta đã nói các ngươi là Thần hay sao ? Nếu Chúa gọi những kẻ được nghe Đạo  ĐCT  phán là Thần ( mà KT không thể bãi bỏ được ) thì Ta đây là Đấng Cha đã biệt ra Thánh và sai xuống thế gian nói rằng Ta là Con  ĐCT thì hà cớ gì các ngươi lại cáo Ta là nói lộng ngôn” ? (Ga 10, 34 – 36).
 
          Đức Kito xuống thế rao giảng Tin Mừng Nước Trời nội tại “ ở trongcác ngươi” Lc 17, 20 ) chính là để cho con người nhận biết được phẩm vị cực kỳ cao sang  là Con Thiên Chúa đó. Kẻ nào tin nhận được điều   ấy  thì vui thì mừng. trái lại thì báng bổ cho Ngài là phạm thượng này nọ. Sự chấp chặt về đấng thần linh ngoại tại trong tôn giáo là trở ngại lớn nhất trong việc thực hiện tâm linh tính của con người.  Đang khi đó Đạo Chúa, dù là  Đạo Cũ ( Cựu ước ) hay Đạo mới ( Tân ước ) cũng đều quy hướng  về đấng Thiên Chúa nội tại ẩn giấu và Đấng ấy, diệu kỳ thay lại chẳng ở đâu xa ngoài chính bản tâm mình  “ Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và ở trong lòng ngươi tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi nhận Giesu là Chúa và lòng ngươi tin ĐCT đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu. Vì bởi lấy lòng tin mà được nên công chính và bởi lấy miệng thừa nhận mà được cứu rỗi” Rm  10, 8 – 10).
 
          “ ĐẠO” cần được hiểu theo tinh thần minh triết Đông Phương “ Đạo khả Đạo phi thường Đạo, Danh khả Danh phi thường Danh” ( Đạo (mà ta) có thể  nói  ra được đó không phải là Đạo thường. Danh (mà ta) có  thể gọi tên ra được, đó không phải là  Danh thường – Lão Tử ĐĐK  chg một ) ĐẠO là thực tại vượt ngoài ngôn ngữ khái niệm, bởi đó cho nên không thể gọi bằng tên, nói  bằng  lời được, hễ nói, gọi ra là đã đi vào đối đãi phân biệt  và mất đi tính chất “ Thường” ( thường hằng). Mặc dầu Đạo là thực tại vượt ngoài ngôn ngữ nhưng Đạo lại cần phải được rao truyền, không rao truyền  thì con người làm sao biết được mối đạo để theo ? Mối đạo đó chính là Tin Mừng của Đức kito về Nước Trời mầu nhiệm. Tuy gọi là Nước nhưng nước Trời ấy hoàn toàn không có biên cương lãnh thổ bởi vì nó là một thực tại tâm vô hình vô tướng. Khi Đức Kito nói “ Nước Ta không thuộc thế giannày” Ga 18, 36 ) thì điều ấy cũng cần được hiểu Nước Trời ấy không phải là Nước ở trên trời tức trên không gian xa thẳm nào đó.  Đức Kito rao giảng Tin Mừng và Ngài đòi buộc con người hai điều “ Thời đã mãn Nước Trời đãgần đến, các ngươi hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng” Mc 1, 15 ) Lòng tin và sự sám hối  là hai điều không thể thiếu để gia nhập Nước Trời ở nơi Tâm mình. Mặt khác hai điều này lại luôn bồi bổ cho nhau, có sám hối chừa cải tội lỗi mình thì đức tin mới có thể tăng trưởng. Ngược lại bao lâu còn sống trong tội thì  đức tin không thể có. Tất cả tội lỗi ở nơi con người đều phát xuất ở nơi hai thứ chấp, đó là chấp thân và chấp tâm. Chấp cho xác thân này là mình thì chỉ biết lo cho cái phần vật chất hư hèn chóng qua này. Còn chấp tâm tưởng là mình thì chỉ biết chạy theo bảo thủ lấy ý riêng mình. Đức Kito xuất hiện nơi đời cũng không ngoài mục đích để cho con người nhận ra bản tính đích thực Con Thiên Chúa của mình “ Ngài đã đến trong cõi thuộc về Ngài. Song những kẻ thuộc về Ngài chẳng tiếp nhận Ngài. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền bính trở nên Con ThiênChúa” Ga 1, 11 – 12 ). Những kẻ thuộc về Ngài ở đây trước hết ám chỉ cho dân Do Thái, họ là Dân Riêng Thiên Chúa nhưng vì cố chấp trong đường lối mình nên đã không nhận Chúa  Giesu là Cứu Chúa . Thánh Phao lo được lựa chọn như một …khí cụ mạnh, chính là để dành cho công cuộc đối thoại với hai đối tượng cả Do Thái giáo lẫn triết học Hy Lạp.
 
          I/-   Với Do Thái giáo
           Trong lịch sử nhân loại quả thật chưa hề có dân tộc nào giống như dân Do Thái, mặc dầu dân số rất ít nhưng lại vang danh hoàn cầu. Sự vang danh ấy có thể là vì họ đã phải đối phó với quá nhiều thù địch hung hãn  cả trong quá khứ xa xưa cũng như hiện tại. Thế nhưng điều đáng phải nói đến chính là từ nơi dân này mà hai tôn giáo lớn bậc nhất đã xuất hiện đó là Kito giáo  và Hồi giáo. Tuy cùng một tổ phụ là Ap ra ham nhưng đã chia rẽ thành hai thứ dân đối chọi nhau ảnh hưởng đến vận mệnh của toàn thế giới. Một dân thuộc Isaac, một dân thuộc Ichmaen. Dân thuộc  Isaac là Dân Riêng TC còn Ichmaen là Hồi giáo.  Sara chính thất của Ap ra ham nói với chồng là phải đuổi Aga nàng hầu gốc Aicập  và con của nàng ta đi. Apraham nghe vậy rất buồn lòng nhưng Giehova Thiên Chúa phán  “ Ngươi chớ buồn bực vì con trai và con đòi ngươi. Sara nói thế nào hãy nghe theo vì do nơi Isaac sẽ sanh ra dòng dõi lưu danh ngươi. Ta cũng sẽ làm cho đứa trai của con đòi ( Aga ) trở nên một dân, vì nó cũng do nơi ngươi mà sanh ra” ( Stk 21, 12 -13) . Cùng một tổ phụ nhưng ngay từ khi được khai sinh bởi Mohamet, Hồi giáo đã là thế lực chống lại Đạo Công giáo một cách kịch liệt. Sở dĩ nói Công giáo bởi vì chỉ trong tính chất  Duy Nhất, Thánh thiện  và Tông truyền mà đạo Công giáo mới thuộc về Dân Riêng là Dân đã được Thiên Chúa tuyển chọn “ Chớ gì trên thế gian có dân tộc nào giống như dân Itsraen của Chúa . một dân tộc mà ĐCT đã chuộc lại làm dân riêng của Ngài sao” ( SK 1  17, 21) dân Do Thái là dân riêng và họ vẫn luôn tự hào về điều ấy. Thế nhưng cũng chính bởi sự tự hào đó mà họ đã chấp chặt về sự hiểu biết cũng như tin tưởng của mình đến nỗi đã bội nghịch không còn là Dân Riêng nữa. Thiên Chúa trong đức Kito về sau sẽ tạo lập  một Dân Riêng khác gồm bởi nhiều dân tộc “ Này Ta sẽ giải cứu Dân Ta từ phương đông, phương Tây và đem chúng đến  chúng nó sẽ ở giữa Gierusalem làm Dân của Ta còn Ta sẽ làm ĐCT chúng nó trong sự chân thật và công bình” ( Dcr 8, 7- 8).
 
           Dân Do Thái trước sau vẫn tự nhận mình là Dân Riêng và ngay cả cho đến bây giờ cũng thế. Tuy nhiên như lời KT vừa trích dẫn, Dân Riêng ấy hoàn toàn không phải như họ tưởng mà đó phải là  dân của Lời hứa. Sự lầm tưởng ấy đã được chính Đức Kito vạch trần “ Ta biết rằng các  ngươi là dòng giống Ap ra ham  nhưng các ngươi lại tìm giết Ta vì Đạo của Ta đã không tiến hành được trong các ngươi. Ta nói điều Ta đã thấy nơi Cha Ta, còn các ngươi thì làm điều các ngươi đã nghe nơi cha các ngươi. Chúng đáp rằng cha chúng tôi là Ap ra ham. Chúa đáp nếu các ngươi là con cái Ap ra ham thì chắc phải làm việc của Ap ra ham nhưng nay các ngươi tìm giết Ta là người lấy chân lý đã nghe từ nơi ĐCT mà nói cho các ngươi, Ap ra ham chẳng làmđiều đó” Ga 8, 37 – 40). Nếu là con cái Ap ra ham thì phải làm công việc của Ap ra ham, việc ấy Thánh Phao lo cho biết đó là hãy tin vào Lời hứa “ Người tuy không còn chỗ hy vọng nhưng vẫn cứ lấy lòng hy vọng mà tin để trở nên cha của nhiều dân tộc theo như lời đã phán rằng dòng giống ngươi sẽ như vậy. Tuy người nhìn thấy thân thể mình dường như đã chết rồi( vì đã gần trăm tuổi) và tử cung của Sara đã khô  thì đức tin của người vẫn   chẳng suy nhược đâu, nhưng vì ngửa trông lời Hứa của ĐCT nên không vì sự vô tín mà nghi hoặc. Trái lại bởi đó đức tin càng thêm mạnh mẽ mà tôn vinh ĐCT vì tin chắc rằng điều Ngài đã hứa thì Ngài sẽ làm trọn” Rm 4, 18, 21 ).
 
          Ap ra ham tin chắc vào lời hứa, vì vậy ông xứng đáng là tổ phụ của những kẻ tin. Mặc dầu vậy bản thân ông và ngay cả dân Do Thái cũng vẫn chưa vào được ĐẤT mà TC đã  HỨA. Trong quan niệm của người Do Thái thì ĐẤT  HỨA  ấy trước sau vẫn chỉ là miền đất Canaan, thế nhưng từ đất nô lệ Aicap  trở về, trải qua suốt bốn mươi năm  ròng rã trong sa mạc, chiến trận với không biết bao nhiêu là bộ tộc lớn nhỏ mới chiếm được đất Canaan để rồi  họ cũng chỉ tồn tại ở đó chưa đầy bốn trăm năm lại bị đánh chiếm và bắt đi làm phu tù nô lệ cho ngoại bang suốt nhiều thế kỷ.  cuối cùng nhờ vào sự bảo trợ của LHQ  đứng đầu là Anh và Mỹ mới thành lập được quốc gia vào năm 1948. Rồi đây chẳng biết người Do Thái có trụ được hay không và..trụ được bao lâu trên cái mảnh đất mà bao quanh nó là những thế lực Hồi giáo thù địch lúc nào cũng chỉ muốn ăn tươi nuốt sống mình ? Mặc dầu vậy họ vẫn một mực cho rằng mình được TC hứa ban để trở thành một dân tộc hùng cường  cùng sự ra đời của Đấng Messia hầu thống trị thế giới. Thánh Phao lo trong tất cả những lần gặp gỡ đối thoại ngài đã trình bày cho họ thấy rằng để vào được ĐẤT HỨA  ấy thì duy chỉ bởi đức tin thôi  và Đức Giesu Kito chính là Messia Đấng sẽ dẫn đưa Dân Người vào “ Hỡi anh em, tôi nói theo cách người ta thường nói. Dẫu là giao ước của loài người mà nếu đã định rồi thì chẳng ai có thể xóa hoặc thêm vào gì được. Vả lời hứa đã phán cho Ap ra ham và cho dòng giống  Người chứ không nói cho các dòng giống như chỉ về một người tức là Đức Kito. Vậy tôi nói rằng giao ước mà ĐCT đã định trước kia không có thể bị bãi bỏ bởi luật pháp đến sau nó bốn trăm ba mươi năm mà khiến cho Lời Hứa ra vô hiệu được đâu. Vì chưng nếu  sự thừa thọ cơ nghiệp bởi luật pháp thì không còn bởi Lời Hứa nữa. Nhưng ĐCT đã ban nó cho Ap ra ham bởi Lời Hứa” Gal 3, 15 -18).
 
          Với người Do Thái thì ĐẤT HỨA  sẽ được tạo lập bằng việc thực thi giới luật. Thế nhưng nếu vậy thì Lời Hứa của TC đâu còn giá trị gì. ? Lời hứa cho vào Đất hứa ấy không thể xảy đến trong thời Cựu ( Cựu Ước) mà chỉ có thể đến trong  giao ước mới ( Tân Ước ), điều ấy đã được báo trước “ Chúa phán kìa ngày đến Ta sẽ cùng nhà Itsraen và nhà Giuda  lập một giao ước mới không phải theo như giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ họ trong ngày Ta cầm tay họ dắt ra khỏi xứ Ai cập. Vì họ không giữ giao ước Ta nên Ta không kể đến họ, ấy là  lời Chúa phán. Chúa lại phán = này là giao ước mà Ta sẽ lập với Nhà Itsraen = sau những ngày đó Ta sẽ để luật pháp Ta trong tâm trí họ, ghi tạc nó vào tâm hồn họ, Ta sẽ làm  ĐCT   của chúng và chúng sẽ làm dân Ta” Dt 8, 8- 10).
 
          “ Kìa ngày đến” ám chỉ sự ra đời của Đức Kito cùng với lời kêu gọi con người  hãy trở về với Nước Trời  mầu nhiệm sẵn đủ ở ngay nơi tâm mình “ Luật pháp và tiên tri đến Gioan là hết, rồi từ đó Tin Mừng Nước TC được rao giảng ra và ai nấy đều phải nỗ lực mà vào” Lc 16, 16 ).
 
          II/-   Với triết học Hy Lạp
          Đạo Chúa phát xuất từ dân  Do Thái nhưng không chỉ bó hẹp trong phạm vi Do Thái giáo mà theo lệnh truyền của Đức Kito( Mc 16, 15) nó đã lan ra trên toàn thế giới. Để Đạo Chúa có được sự loan truyền đến khắp muôn dân  thì chúng ta phải kể đến công đầu thuộc về Phao lo nhưng nguyên do  gián tiếp cũng là vì có sự chống đối quyết liệt  của người Do Thái, ngài mạnh mẽ nói với họ “ Đạo  ĐCT cần phải truyền đến các ông trước hết nhưng vì các ông đã duồng bỏ Đạo ấy, tự xét mình không xứng đáng có được sự sống đời đời. Nên này chúng tôi xoay qua dân ngoại vì Chúa có phán bảo  chúng tôi rằng = Ta  đã lập ngươi làm sự sáng cho dân ngoại, để ngươi làm sự cứu rỗi cho đến  tận cùng trái đất.  Người ngoại nghe lời đó thì vui mừng, tôn vinh Đạo ĐCT  và bao nhiêu kẻ đã được dự địnhcho sự sống đời đời đều tin” Cv 13, 46 -48).
 
           Phao lo sau khi bị người Do Thái quyết liệt từ chối, ngài đã  đến với dân ngoại. Thế nhưng  ngay cả dân ngoại  cũng  không hề tiếp nhận, lý do bởi vì Tin Mừng của Đức kito chẳng những trái ngược với Do Thái giáo mà còn cả với các nền văn hóa triết học và tôn giáo khác “ Tại thành A then có mấy triết gia thuộc phái khoái lạc Epicurien và khắc kỷ Stoiciens chất vấn Phao lo = lão già bẻm mép  này muốn nói gì đó ? Kẻ thì nói dường như hắn tuyên truyền quỷ thần dị bang vì Phao lo giảng về Chúa Giesu và sự sống lại của Người. Chúng chụp lấy người kéo đến A rê ô ba mà hỏi rằng =chúng ta có thể biết được đạo mới mà ngươi giảng đó là gì chăng. Vì ngươi gieo vào tai chúng ta những điều lạ nên chúng ta muốn biết việc này nghĩa là làm sao? Vả hết thảy người Athen  và kiều dân tại đó chẳng để thì giờ về việc gìkhác chỉ nói  và nghe điều đó thôi” Cv 17, 18 – 21 ). Có thể nói dân Hy Lạp cổ thời là quê hương của  triết học với những tên tuổi lẫy lừng như Thales, Pythagor, Democrite, Socrate Platon Aristote v.v..cho đến nay vẫn còn vang danh. Triết và đời sống dường như hòa quyện với nhau để làm nên một thứ đa thần giáo mang tính đặc trưng của vùng Địa Trung hải. Để thông truyền đức tin của mình Thánh Phao lo cũng không quên nhắc đến tính chất đam mê tôn giáo của họ “  Ớ người A then tôi thấy phàm việc gì các ông cũng kính sợ quỷ thần quá chừng. Vì khi tôi dạo xem những vật các ông thờ phượng thì thấy  có một bàn thờ đề rằng  “ Thần chưa biết”.  Vậy Đấng các ông chưa biết mà kính thờ đó là Đấng tôi đương rao giảng cho các ông đây. Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó là Chúa  Trời Đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta làm ra đâu. Cũng chẳng dùng tay người ta hầu việc Ngài, dường như ( Ngài) có cần đến sự gì vì chính Ngài ban sự sống hơi thở  và mọi sự cho mọi loài. Ngài do một người mà làm nên mọi dân tộc trong loài người để ở khắp mặt đất, định niên hạn và cương giới cho chỗ ở của họ, cốt để họ tìm kiếm ĐCT hầu mong tìm gặp được Ngài dẫu rằng Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta” Cv 17, 22 – 27).
 
          Thánh Phao lo nói “ Thần chưa biết” mà người Hy Lạp vẫn thờ đó chính là Đấng Tạo Dựng trời đất muôn vật. Tuy nhiên ở đây cần phân biệt sự khác nhau giữa quan niệm của Thánh Phaolo và của Triết hy Lạp về Đấng Tạo Dựng. Với Phao lo thì Đấng ấy “ Chẳng ở đâu xa” tức là ở trong Tâm của mỗi người. Còn với  triết học  thì  Đấng ấy trong thực chất chỉ là một quan niệm. Thực vậy triết Hy Lạp khởi từ Parmenide ( 540 – 470) với định nghĩa bất hủ “ hữu Thể có ( còn) Hư vô không có” ( L’ Etre est,  le neant n’est pas ) đã khai sinh ra môn Hữu Thể Học ( Ontologie ) mà ảnh hưởng của nó cho tới tận ngày nay vẫn không hề suy xuyển. Toàn bộ mục đích  Hữu  Thể Học mà về sau được Thần học gọi là khoa học Thánh được xử dụng  để chứng minh cho sự hiện hữu của Thiên Chúa. Sự chứng minh bằng triết học ấy Thánh Phao lo gọi nó là sự khôn ngoan thế gian  và sự khôn ngoan này sẽ không bao giờ có thể đưa đến sự nhận biết Thiên Chúa “ Người khôn ngoan ở đâu?  Triết gia ở đâu ? Biện luận gia đời này ở đâu ?ĐCT há chẳng làm cho sự khôn ngoan thế gian này hóa ra ngu dại ư ? Vì tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng do sự khôn ngoan ĐCT để mà nhận biết ĐCT cho nên ĐCT đã vui lòng dùng sự ngu dại của Đạo chúng ta rao giảng mà cứu rỗi những kẻ tin” 1C 1, 20 – 21 ).
 
           Sự khác biệt giữa khôn ngoan thế gian và Thiên Chúa chính là ở chỗ  phân biệt và vô phân biệt. Phân biệt tức còn thấy có mình, có người, có giàu nghèo, sang hèn, thị phi, thiện ác v.v. Bao lâu còn  thấy có mình thì Thiên Chúa  vẫn ở bên ngoài. Phải bỏ mình đi để nên như con trẻ  mới thấy ( nhận biết) được Đấng Chúa ở nơi mình ( mt 18, 3 ), thế nhưng đạo lý bỏ mình ấy đối với thế gian dường như là ..ngu dại. Sống và chết để làm chứng cho chân lý mặc dầu chân lý ấy trước mắt thế gian  đã bị chối bỏ. Thánh Phao lo quả rất xứng đáng là khí cụ mạnh được Chúa lựa chọn.
 
          III/-  Phẩm  giá  của  người  đối thoại
          Làm chứng  không giống như tuyên truyền, người làm công tác tuyên truyền chỉ cần nói hoặc đọc theo chỉ thị, không cần biết điều đó đúng hay sai. Trái lại người làm chứng thì cần phải biết về điều mình làm chứng. làm chứng mà không biết điều mình làm chứng đó là chứng gian. Đức Kito đòi buộc các môn đệ phải làm chứng nhân cho Ngài. Tuy nhiên trong trường hợp của Phaolo thì sao ? ngài đâu có sống cùng thời , đâu có nghe có thấy những việc Chúa làm hay giảng dạy để lấy đó làm chứng  cho sự thật ? mặc dầu không gặp gỡ Chúa khi Ngài còn tại thế nhưng quả thật Thánh Phaolo đã được Chúa trực tiếp trao truyền Tin Mừng “ Hỡi anh em, tôi tỏ cho anh em biết rằng Tin Mừng mà tôi rao giảng chẳng phải  theo ý loài người đâu. Vì tôi không lãnh nhận Tin Mừng  ấy nơi người  phàm, cũng chẳng ai dạy dỗ tôi, nhưng đã nhận được bởi sự mạc khải từ nơi Đức Giesu Kito” Gal 1, 11- 12 ).
 
          Trong lãnh vực tâm linh thì đối thoại và chứng cớ phải  đi đôi với nhau. Nói cách khác người đối thoại chỉ có thể thuyết phục được người  nghe bằng chính đời sống của mình. Phao lo nói rằng mình đã được Đức Kito mạc khải Tin Mừng và điều này ngài đã có chứng minh “ Tôi biết một người trong Đức kito cách mười bốn năm trước đây đã được cất lên đến từng trời thứ ba. Hoặc trong thân thể tôi chẳng biết, hoặc ngoài thân thể tôi chẳng biết, có ĐCT biết. Tôi biết thể nào người đó hoặc trong thân thể, hoặc ngoài thân thể tôi cũng chẳng biết, có ĐCT biết tôi đã được cất lên đến Lạc Viên( Nước Thiên Đàng) nghe những lời không thể nói mà người nào cũngkhông được phép nói ra” 2C 12, 1 -4). Được đưa lên tới tầng trời thứ ba, nghe những lời không thể nói mà có nói ra thì người đời  cũng chẳng sao mà hiểu được. Thánh Phaolo đã được lựa chọn mà người  được Chúa chọn thì Ngài cũng ban ơn dư dật. Tuy nhiên ơn ấy không  thể  dành cho riêng mình  nhưng là để đem đến cho mọi người. Ơn của Chúa thì vô cùng trọng đại nhưng thế gian vì ngu mê nên họ không dễ để mà tiếp nhận. Một khi đã không tiếp nhận thì tất nhiên quay ra chống đối, chính vì  lý do đó mà Thánh Phaolo cũng như biết bao  tông đồ khác  để làm chứng cho chân lý mà đã phải lãnh nhận muôn vàn khổ cực gian lao cho đến hy sinh cả mạng sống mình.  Những chứng nhân của Chúa tuy rằng phải khổ cực đọa đày như thế nhưng tâm hồn các ngài vẫn luôn được bình an và đó chính là ân sủng, là phẩm giá của các ngài “ Trong mọi sự, chúng tôi tiến dẫn mình  như chấp sự của ĐCT, nào trong nhiều sự nhẫn nại, hoạn nạn thiếu thốn khốn khổ, đòn vọt lao tù hỗn  loạn, cần lao không ngủ không ăn. Nào trong sự trong sạch, trí thức kiên nhẫn nhân từ sự cảm hóa của Thánh linh, tình thương yêu không giả dối lời chân thật  quyền năng của ĐCT. Nào bởi tiếng xấu hay tiếng tốt, nào như kẻ lừa dối mà lại chân thật. Nào như kẻ xa lạ mà lại là kẻ quen biết lắm. nào như gần chết mà nay vẫn sống. Nào như bị trừng phạt mà lại không đến nỗi bị giết. Nào như bị buồn rầu mà lại vui mừng luôn. Nào như nghèo ngặt mà lại làm cho nhiều người được giàu có. Nào như không có gì mà lại có tất cả” 2C 6, 4- 10).
 
         Không có gì mà lại có tất cả và cái “Tất Cả” ấy đã dành cho Phaolo  và sẽ cho tất cả chúng ta những chứng nhân của Chúa chẳng những ở đời sau vô cùng mà còn ngay ở đời này./.
 
Phùng văn Hóa 
      
 Trở về
Các bài viết khác:
KHUYẾN DỤ VỀ CÔNG TÁC (05/11 21:10:18 PM)
HÒA HỢP LÀ PHƯƠNG CHÂM (28/10 22:50:53 PM)
KINH NGUYỆN KHÔNG THAY ĐỔI (03/04 14:04:48 PM)