Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 26 tháng 6 năm 2017

 THÁNG 6: KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
(31/05/2016 22:07 PM)
Chia sẻ tin:

TRÁI TIM BỊ ĐÂM THÂU

[LỄ KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU NĂM C (03/06/2016)]
[Ed 34,11-16; Rm 5,5b-11; Lc 15,3-7]    

Nói về trái tim với những trạng thái biểu hiện của nó thì có muôn hình vạn trạng: Có trái tim hớn hở vui mừng thì cũng có trái tim sầu não đớn đau; có trái tim bằng thịt (chan chứa tình cảm) thì cũng có trái tim bằng đá (chai đá, khô khan nguội lạnh – Ed 36, 26); có trái tim nhân hiền (thiện tâm) thì cũng có trái tim ác hiểm (ác tâm – "Đừng trao Người cho ác tâm quân thù" - Kinh cầu cho ĐGH); có trái tim trung hậu, không biết dối gạt, lừa phỉnh (tâm bất điêu trá) thì cũng có trái tim bất trung, không ngay thẳng (tâm bất chính). Rồi thì "Trái tim cô đơn", "Trái tim khô héo", "Trái tim băng giá", "Trái tim không ngủ yên"..., nhiều, nhiều lắm, nhiều không kể xiết. Chung quy cũng chỉ vì đó là những trái tim của loài người, mà trái tim là biểu tượng của tình cảm con người. Có lẽ tại khi có những biến cố thuộc lãnh vực tình cảm (yêu thương, cảm động, giận hờn, căm thù …) xảy đến với con người, thì trái tim là điểm đầu tiên trong cơ thể biểu lộ những phản ứng, những động thái rõ rệt nhất. Còn những suy nghĩ, phán đoán, lý luận thì không thấy trái tim biểu lộ rõ rệt như vậy, nên thường cho đó là thuộc lãnh vực lý trí nằm ở bộ não. Thực ra, tất cả những cảm xúc ấy đều xuất phát từ bộ não (được hệ thống thần kinh báo, bộ não ngay lập tức nhận định, phán đoán và truyền cảm xúc xuống cho trái tim và trái tim bộc lộ ra động thái: tim đập nhanh hơn, mạnh hơn, máu ở trái tim như dồn lên đầu làm cho mặt mũi đỏ bừng, đầu óc hồi hộp, toàn thân nóng rực, run rẩy... ).

Tuy nhiên, nói đến trái tim là nói đến một điểm chung nhất của nhân loại, là đều lấy trái tim làm biểu tượng cho tình yêu (tình yêu nam nữ,  tình yêu  mẫu  tử – phụ tử, tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nhân loại, và bao trùm lên tất cả là Tình Yêu Thiên Chúa dành cho loài người). Thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” (số 10) đã viết: “Chiều kích triết học đáng nêu ra trong hình ảnh Thánh Kinh này, và tầm quan trọng từ quan điểm lịch sử các tôn giáo, là một mặt chúng ta thấy mình đứng trước một hình ảnh rất siêu hình của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối và là nguồn mạch của mọi loài ; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng Thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. Eros vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với agape.”

Tình yêu là "cho" (chủ thể yêu "cho đi") và "nhận" (đối tượng được yêu "nhận về"), hai yếu tố không thể tách rời ("Tuy nhiên, eros và agape – tình yêu nhận về và cho đi – không bao giờ có thể hoàn toàn tách rời. Hai thứ tình này, trong những khía cạnh khác nhau của chúng, càng tìm được sự tương đồng thích đáng trong cùng một thực tại tình yêu thì bản chất thực sự của tình yêu càng thường được nhận ra rõ ràng." – Tđ Thiên Chúa là Tình Yêu “Deus Caritas Est”, số 7). Đó là lý do giải thích tại sao Giáo Hội bày tỏ lòng tôn sùng cách đặc biệt  Trái Tim Cực Thánh Chúa Giê-su. Nói về việc Hội Thánh bày tỏ lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su, thì không thể quên Thông điệp “Haurietis Aquas In Gaudio” (Sẽ Hoan Vui Múc Nước). Xin dựa vào Thông điệp để tìm hiểu vấn đề:

Giáo Hội hằng đánh giá rất cao việc Tôn Thờ Trái Tim Chúa Giê-su, và quảng bá khắp nơi, cổ võ bằng nhiều cách, và xử dụng cả uy thế của mình để bảo vệ sự tôn thờ này. Có hai lý do khiến Giáo Hội bày tỏ lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su: 1- Trái Tim Chúa Giê-su, một chi thể đặc biệt cao quý của Nhân Tính Ngài đã “Hợp thành một thể cùng Ngôi Lời Thiên Chúa”. Đó là nguyên nhân việc thờ phương Trái Tim Chúa Giê-su, như chính Giáo Hội hằng dâng lên cho con Thiên Chúa Nhập Thể,... Đây là một tín điều đã được long trọng tuyên bố tại Công Đồng Ê-phê-sô và Công đồng Constantinople. 2- Bởi vì hơn tất cả mọi thành phần khác của thân thể mình Chúa, Trái Tim Ngài là biểu hiệu tự nhiên của Tình Yêu vô bờ bến của Ngài đối với nhân loại.

Tình Yêu Thiên Chúa tỏa sáng ngay từ Khởi nguyên cho đến Tận cùng vũ trụ. Tình yêu đó đã được Thánh Kinh ghi nhận qua các Giao ước Thiên Chúa lập với nhân loại. Điển hình là 8 Giao ước: 1- Giao Ước Nô-ê trước cơn nước lụt (St 6, 13-22) – sau cơn nước lụt (St 9, 8-17); 2- Giao Ước Áp-ra-ham (St 15, 18-21); 3- Giao Ước I-xa-ác (St 17, 19-21); 4- Giao Ước Gia-cóp (St 28:10-15): 5- Giao Ước Xi-na-i, Đức Chúa ghi 10 lời giao ước (tức mười điều răn) trên bia đá (Giao Ước Xi-na-i còn gọi là Giao Ước Luật Pháp hoặc Giao Ước Mô-sê hoặc Giao Ước Cũ – Xh 20, 1-26): 6- Giao Ước Đất Hứa còn gọi là Giao ước Pa-lét-tin (Xh 12, 1-20; Đnl 16, 1-17); 7- Giao ước Đa-vít: (2Sb 13, 4-12) trong Giao ước Đa-vit có tiên báo về Đấng Christ (Lu-ca 1, 31-33). 8- Giao Ước Mới (còn gọi là Giao Ước Lời Hứa hoặc Giao Ước Ân Điển). Giao Ước Mới: được hứa ban từ Cựu Ước (Gr 31, 31), được ấn chứng bằng máu của Đức Ki-tô trên thập tự giá nên được coi là Giao Ước Máu.

Trong 8 Giao ước đó, thì 7 Giao ước được ban hành trước công nguyên nên gọi là Giao ước Cũ (Cựu Ước) còn Giao Ước Lời Hứa (Giao ước Ân Điển) thì gọi là Giao ước Mới (Tân Ước). Có một điều rất đáng suy gẫm là Giao ước Mới được ban hành đúng vào ngày ăn mừng lễ Vượt Qua (lễ Bánh Không Men trong Giao ước Đất Hứa – Xh 12, 1-20): “T rong bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy." Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: "Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội. ” (Mt 26, 26-28) . Vì thế, nên 2 giao ước được coi là nền tảng Giáo Hội, đó là: Giao ước Đất Hứa (Cựu Ước) và Giao ước Lời Hứa (Tân Ước).

Giao Ước Mới được Ngôi Lời Nhập Thể thiết lập và kiện toàn: Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đem ơn hoà giải lại cho nhân loại. Tân Ước không phải được ký kết bằng máu chiên bò, nhưng bằng chính Máu cực Thánh của ”Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian”. Giao Ước này không căn cứ trên sự thần phục và sợ hãi; trái lại trên tình yêu giữa người Cha và con cái. Để có thể thực sự – tuỳ khả năng con người – hiểu được mọi chiều rộng, dài, cao, sâu của Tình yêu huyền nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, đối với Cha trên trời, với nhân loại hoen ố vì tội lụy, thì cần phải lưu ý đến điểm này: Tình yêu của Đức Ki-tô không chỉ là Tình Yêu Thần linh (bản tính Thiên Chúa), mà còn thể hiện cách cụ thể nơi thân xác người phàm (bản tình nhân loại nơi chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret),

Thần học Ki-tô giáo đã định tín: Ba Tình Yêu nơi Chúa Cứu Thế: Thần Linh, Thiêng Liêng, và Khả Giác. Sự hòa hợp giữa ba tình yêu ấy, hoàn toàn đến nỗi không gì có thể bất ổn xảy ra. Quả thật, Ngôi Lời Nhập Thể không phải mặc lấy một thân xác giả tạo. Đức Ki-tô là Ngôi Lời đã được kết hợp với một nhân tính, đầy đủ và hoàn hảo, được cưu mang trong cung lòng cực sạch của Đức Trinh Nữ Maria, do quyền năng Chúa Thánh Thần. Đây là một chân lý mà Giáo Hội, qua các vị Giáo Hoàng, qua các Công Đồng chung, đã long trọng tuyên bố và không ngừng xác nhận: ”Nơi Đức Ki-tô, Thần tính thật là hoàn hảo. Toàn cả Thiên Chúa làm người; và toàn cả con người được Thiên Chúa hoá.” Nói cách khác, nơi Đức Ki-tô, thần tính và nhân tính kết hợp thật hoàn hảo và biểu lộ cụ thể nhất nơi Trái Tim Người.

Chính Trái Tim Chúa Giê-su Biểu tượng Tình Thương Hoàn Hảo đã phát sinh việc Tôn thờ Thánh Tâm Chúa Ki-tô. Những tư tưởng được Phúc Âm soi chiếu đã chứng minh một cách xác đáng là việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giê-su chính là việc tôn thờ tình yêu thuộc thần tính và nhân tính nơi Ngôi Lời Nhập Thể. đó cũng chính là việc tôn thờ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần hằng ấp ủ tội nhân (là đàn con đắm chìm trong tội lỗi noi trần thế). Vì lẽ tình yêu của Ba Ngôi Chí Thánh thật là nguyên thủy của công trình cứu chuộc loài người. Tình yêu này đã ảnh hưởng trên Trái Tim đáng tôn thờ của Chúa Giê-su và đã thúc đẩy Ngài đổ máu để giải thoát nhân loại khỏi vòng nô lệ tội lỗi. Khi chiêm ngắm Trái Tim bị đâm thâu của Chúa Giê-su Đấng Cứu Thế, người tín hữu cảm thấy được thúc đẩy mỗi lúc một mãnh liệt phải tôn thờ tình yêu vô biên của Ngài đối với loài người.

Nếu muốn gợi lại những giai đoạn vinh quang của việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su trong suốt dòng lịch sử đạo đức của các tín hữu, Giáo hội ghi được ngay tên tuổi những vị thời danh đã được tuyên dương là “Tiên phong” khi việc tôn sùng này mới phát triển. Có thể ghi nhận: Thánh Bonaventura, Thánh Alberto Cả, Thánh Gertrude, Catherine, Francois de Sales,… còn Thánh Jean Eudes là tác giả bản lễ nghi phụng vụ đầu tiên về Thánh Tâm Chúa Giêsu. Lễ nghi này được long trọng cử hành lần thứ nhất ngày 20/10/1672. Nhưng trong số các danh nhân từng cổ võ cho việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giê-su, một địa vị quan trọng phải được dành cho Thánh nữ Maria Margarita. Thánh nữ Maria Margarita đã được chân phước Claude de la Colombière làm linh hướng, và trợ tá đắc lực cho vị nữ tu này trong việc hăng say cổ võ cho việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su được lan rộng. Những thành công tốt đẹp của vị nữ tu khiến các tín hữu xa gần phải ngạc nhiên, thán phục. Chị đã khéo léo canh tân việc tôn thờ đó bằng cách dựa vào những hình thức đạo đức hướng về tình yêu và đền tạ.

Riêng các Đức Giáo Hoàng với lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su thì phải kể: Đức GH Clê-men-tê XIII ban hành Sắc lệnh (ngày 6/2/1765) chấp thuận cho cử hành Thánh Lễ phụng vụ Thánh Tâm Chúa Giê-su. cho phép các Giám mục Ba-lan và Liên Tu Hội Rô-ma dòng Thánh Tâm mừng lễ kính Thánh Tâm Chúa Giê-su. Gần hai thế kỷ sau ngày thánh nữ Maria Margarita qua đời, vào 23/8/1856, qua lời thỉnh cầu của các Giám mục Pháp và một số Giám mục trên thế giới, Ðức Pi-ô IX (1846-1878) mới chấp thuận và lập lễ kính Thánh Tâm Chúa Giê-su trên toàn Giáo Hội, và lễ này được cử hành một cách long trọng và được đưa vào lịch Phụng vụ.

Sau khi lễ kính Thánh Tâm được đưa vào lịch Phụng vụ của Giáo Hội, ngày 25/5/1899 Ðức Lê-ô XIII (1878-1903) ban hành Thông điệp “Annum Sacrum”, ấn định việc cử hành long trọng và công khai trên toàn thế giới lễ nghi dâng nhân loại cho Trái Tim cực thánh Chúa Giê-su. Ngày 8/5/1928, Đức Pi-ô XI (1922-1939) công bố Thông điệp “Miserentissimus Redemptor” (Đấng Cứu Chuộc rất nhân hậu) về việc cần thiết tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su với tinh thần đền tạ. Trong Thông điệp “Haurietis Aquas In Gaudio”, Đức Pi-ô XII đã khẳng định: “Lòng sùng kính rất thánh Trái Tim Chúa Giê-su quan trọng đến nỗi khi được thực hành đúng đắn, có thể được coi như sự tuyên xưng đức tin Ki-tô giáo cách hoàn hảo. Nó không phải chỉ là một hình thức đạo đức bình thường mà ai nấy tùy ý thực hiện, như thể không có hiệu quả gì hay bỏ qua một bên như là thua kém các việc đạo đức khác.” Và ngài cũng nhấn mạnh thêm: “Ý nghĩa thâm sâu của việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su là lấy tình yêu đáp trả tình yêu!”

Trong cuốn “Nhật Ký Tâm Hồn”, Thánh GH Gio-an XXIII (1958-1963) đã minh định “Tôi muốn lòng sùng kính Trái Tim Người, ẩn dấu trong Bí tích Tình Yêu, là thước đo cho tất cả sự tiến bộ tâm linh của tôi. Tôi quyết tâm không để mình ngơi nghỉ cho đến khi tôi có thể thực sự nói rằng tôi đã được tan hòa vào trong Trái Tim Chúa Giê-su.” Vị Giáo Hoàng đắc cử đúng vào Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su ngày 21/6/1963, Đức Phao-lô VI (1963-1978) đã viết trong Huấn dụ “Tôn Sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su” (ban hành ngày 6/2/1965 nhân kỷ niệm 200 năm thành lập Lễ Thánh Tâm Chúa Giê-su): “Sự tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su là việc rất cao quí và đặc biệt cần thiết cho thời đại này. Ta ước mong việc này được tổ chức với Nghi thức Phụng vụ để phát triển mỗi ngày mỗi rộng lớn hơn, hầu cho mọi Ki-tô hữu được say sưa lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa và nhờ đó, được đổi mới về mọi phương diện.”

Nhưng đặc biệt, với Thánh GH Gio-an Phao-lô II, vị Giáo Hoàng đắc cử ngày 16-10-1978, đúng vào ngày lễ kính nhớ thánh nữ Margarita Maria Alacoque – vị Tông đồ của Thánh Tâm – đã mạnh mẽ minh xác sự cần thiết của lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giê-su trong thời đại chúng ta như sau: “Trong nhiều dịp khác nhau, tôi đã bày tỏ lòng xác tín của tôi là lòng sùng kính Thánh Tâm phù hợp hơn bao giờ hết với những mong đợi của thời đại chúng ta. Tôi đã nhấn mạnh rằng, những yếu tố căn bản của lòng sùng kính này thuộc về linh đạo của Hội Thánh suốt dòng lịch sử của mình một cách ổn định.” (Diễn văn với Dòng Thừa Sai Thánh Tâm, 5/10/1987).

Đức Bê-nê-đíc-tô XVI cũng xác tín: “Trong Trái Tim của Đấng Cứu Thế, chúng ta tôn thờ tình yêu nhân loại của Thiên Chúa, ý muốn cứu độ toàn thể nhân loại của Ngài, lòng thương xót vô biên của Ngài. Tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, do đó, còn có nghĩa là tôn kính Trái Tim mà sau khi đã yêu chúng ta cho đến cùng, đã bị đâm thủng bởi lưỡi đòng, và từ nơi cao trên thập giá, đã đổ máu và nước, một nguồn mạch vô tận của đời sống mới… Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa là căn bản cho đời sống giáo hữu, việc đó có thể cải hoán được cá nhân, gia đình và xã hội. Việc đạo đức này không những hợp thời mà còn là hi vọng độc nhất nhằm cứu thoát nhân loại khỏi con đường tục hoá ngày nay.”

Kết thúc Thông điệp “Haurietis Aquas In Gaudio”, Đức Pi-ô XII viết:Sau những gì được trình bày chúng ta thấy là chính Thánh Kinh truyền thống phụng vụ là những nguồn suối của việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giê-su. Chính ở những nguồn suối này mà các tín hữu phải tìm đến để đi vào bản chất thâm sâu của việc tôn sùng này và nhận lãnh, nhờ suy niệm những thức ăn để nuôi dưỡng và gia tăng lòng sốt sắng của họ. Vậy để kết luận việc tôn thờ Trái Tim của Chúa Giê-su trong thực chất sâu xa của nó, chính là việc tôn thờ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA đối với chúng ta trong Đức Ki-tô việc tôn thờ này nhằm tôn vinh lòng mến Thiên Chúa đối với nhân loại và nhìn nhận Thiên Chúa tình yêu là đối tượng việc phụng thờ và tạ ơn.

Thiên Chúa là Tình Yêu, mà Thiên Chúa vốn giàu lòng thương xót nên phải xác tín “lòng thương xót của Thiên Chúa, là trái tim đang đập của Tin Mừng” là chính Trái Tim Cực Thánh Chúa Giê-su, mà Giáo Hội luôn mong mỏi người tín hữu một lòng một dạ tôn thờ. Quả thật “Với đôi mắt của chúng ta dán chặt vào Chúa Giê-su và ánh mắt xót thương của Ngài, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Sứ vụ của Chúa Giêsu được Chúa Cha trao phó là mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa trong sự viên mãn của tình yêu ấy: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4: 8,16), Mầu nhiệm của Chúa Kitô.. . buộc tôi phải rao giảng lòng thương xót như tình yêu từ bi của Thiên Chúa, đã được mạc khải trong cùng một mầu nhiệm của Chúa Kitô.” Vì thế, “Giáo Hội được ủy thác công bố lòng thương xót của Thiên Chúa, là trái tim đang đập của Tin Mừng, là điều phải tìm được cách thấm nhập trái tim và tâm trí của mỗi người. Hiền thê của Chúa Ki-tô phải rặp khuôn hành vi của mình như Con Thiên Chúa, Đấng đã vươn ra với mọi người không coi ai là ngoại lệ.” (Tông chiếu Dung Mạo Lòng Thương Xót “Miserricordiae Vultus”, số 8).

Ôi! “Lạy Chúa, vì tội lỗi chúng con, Chúa đã muốn cho Thánh Tâm Con Một Chúa bị đâm thâu, khiến kho tàng tình yêu vô biên được mở ra để chúng con hưởng nhờ. Xin cho chúng con hằng sốt sắng tôn sùng Thánh Tâm Người, và biết đền tội chúng con cho cân xứng. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ kính Thánh Tâm Chúa Giê-su).

JM. Lam Thy ĐVD.

NGUỒN THƯƠNG XÓT

Trong thời gian từ 1968-1969, Chúa Giêsu đã mặc khải cho Mẹ Carmel tại Milan (Ý). Ngày 20-4-1968, Mẹ Carmel hỏi Ngài: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn con làm gì?”. Chúa Giêsu nói: “Hỡi con gái của Cha, con hãy viết. Con sẽ làm Tông đồ Tình Yêu Đầy Thương Xót của Cha. Cha sẽ chúc lành cho con. Và Cha sẽ đổ xuống trên con muôn vàn ơn Thánh, và những ân thưởng lớn lao. Cha cám ơn con đã phổ biến Thánh Nhan của Ta. Ta sẽ chúc lành cho các gia đình trưng bày hình ảnh của Ta, và Ta sẽ cải hoán những kẻ tội lỗi sống trong các gia đình đó. Ta sẽ giúp kẻ lành tự cải tiến thêm, và những kẻ nguội lạnh trở nên sốt sắng hơn. Ta sẽ để mắt đến các nhu cầu của họ, và sẽ giúp họ trong mọi sự cần thiết, vật chất cũng như siêu nhiên”. Rồi Ngài đã xác định: “TA LÀ GIÊSU ĐẦY LÒNG THƯƠNG XÓT”.

Khi mặc khải Thánh Tâm cho Thánh nữ Margaritta Maria Alacoque (Marguerite Marie Alacoque, 1647-1690), một nữ tu khiêm nhường của Dòng Thăm Viếng ở Paray-le-Monial (Pháp quốc), Chúa Giêsu đã cho thánh nữ thấy Thánh Tâm Ngài có lửa cháy, bị vòng gai quấn quanh và bị lưỡi gươm đâm thâu. Lần hiện ra quan trọng xảy ra trong tuần bát nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa Giêsu (Corpus Christi) năm 1675 – có thể là ngày 16 tháng Sáu, Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Hãy ngắm nhìn Thánh Tâm Ta yêu thương nhân loại biết bao… Nhưng thay vì được lòng biết ơn, Ta chỉ nhận được sự vô ơn…”. Chúa Giêsu đã yêu cầu Thánh nữ vận động thiết lập lễ kính Thánh Tâm vào Thứ Sáu sau lễ kính Mình Máu Thánh. Và ngày 11-6-1899, theo lệnh của ĐGH Lêô XIII, cả thế giới đã được tận hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu.
Thánh Tâm Chúa Giêsu là Trung Tâm Thương Xót, nơi tuôn chảy Nguồn Tình với hai dòng Máu và Nước – như đã được mặc khải cho Thánh nữ Maria Faustina Kowalska (còn gọi là Thánh Faustina Thánh Thể, OLM, 1905-1938).
Ai cũng có tim nhưng không ai thấy tim. Mặc dù tim không nhìn thấy nhưng khả dĩ cảm nhận, và tim là một cơ phận rất quan trọng, vì tim là trung tâm phân phối sự sống. Tim còn đập là còn sống. Tim hoạt động âm thầm nhưng nuôi sống cả cơ thể. Mặc dù não là trung tâm điều khiển – ví như bộ tổng tham mưu, nhưng vẫn phải nhờ tim bơm máu. Người ta có thể chết lâm sàng chứ chưa chết thật bởi vì tim còn hoạt động, dù nhịp đập rất yếu. Những người bị chứng bại não, sống đời thực vật, không biết phân biệt điều gì, nhưng họ vẫn sống nhờ tim vẫn hoạt động. Chừng nào tim ngừng đập thì sự sống mới chấm dứt!
Thánh Tâm Chúa Giêsu là nguồn mọi hồng ân, là nguồn cứu độ, là mạch thương xót, là suối yêu thương, vì chính Thánh Tâm đã tuôn trào Nước và Máu để tẩy rửa và cứu độ các tội nhân – trong đó có mỗi người chúng ta. Chính Chúa Giêsu đã nhắn nhủ: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30). Không ai lại không đau khổ, yếu đuối, mệt nhọc, tội lỗi,… thế nên không thể không cần Thánh Tâm Chúa Giêsu và Lòng Chúa Thương Xót.
Đừng bao giờ quên rằng Chúa Giêsu luôn mong muốn chúng ta trú ngụ nơi Thánh Tâm Ngài, không chỉ ghé thăm mà ở lại đó mãi mãi: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Ước gì mỗi chúng ta biết tìm về nghỉ ngơi nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu – Cao Nguyên Yêu Thương và Đại Dương Thương Xót!
Ơn cha mẹ mà chúng ta đáp đền cả đời còn chưa cân xứng huống chi Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. Nhưng thật là diễm phúc cho chúng ta vì Chúa Giêsu đã xác nhận: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:32). Ngài đến thế gian để TÌM và CỨU những gì đã mất (Lc 19:10), chỉ cần chúng ta tin vào tình yêu cao cả của Thiên Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ không thất vọng. Chỉ có chúng ta rời bỏ Chúa chứ Chúa không bao giờ rời xa chúng ta!
Thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã dùng miệng lưỡi ngôn sứ Êdêkien để mặc khải Thánh Ước: “Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và thân hành kiểm điểm. Như mục tử kiểm điểm đàn vật của mình vào ngày nó ở giữa đàn chiên bị tản mác thế nào, Ta cũng sẽ kiểm điểm chiên của Ta như vậy. Ta sẽ kéo chúng ra khỏi mọi nơi chúng đã bị tản mác, vào ngày mây đen mù mịt. Ta sẽ đem chúng ra khỏi các dân, tập hợp chúng lại từ các nước và đưa chúng vào đất của chúng. Ta sẽ chăn dắt chúng trên các núi Ít-ra-en, trong các thung lũng và tại mọi nơi trong xứ có thể ở được” (Ed 34:11-13). Đó là lời hứa chắc chắn, vì Thiên Chúa là Đấng luôn trung tín trong mọi lời nói và mọi việc làm. Thật tuyệt vời!
Hồng ân nối tiếp hồng ân, Ngài lại tiếp tục thề hứa: “Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ít-ra-en. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ít-ra-en. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng” (Ed 34:14-16). Thật hạnh phúc khi được nương bóng cánh của vị mục tử như vậy! Nhưng lại thật bất hạnh nếu chúng ta cố chấp, như Chúa đã cảnh báo: Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu (Mt 23:37; Lc 13:34).
Nếu thực sự có niềm tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, chúng ta khả dĩ tự nhủ và xác định với mọi người điều này: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 23:1), và có thể tự hào nói: “Chúa là gia nghiệp đời tôi” (Tv 16:5). Đó cũng là một cách tuyên xưng Lòng Chúa Thương Xót.
Nói về đức tin, Thánh Phaolô giải thích rạch ròi: “Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ có thế; chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy (Rm 5:2-4). Quả thật, đây là một chuỗi hệ lụy vô cùng kỳ diệu!
Còn nữa, và cũng để cho chúng ta an tâm, thánh nhân tiếp tục giải thích “dài hơi” thêm một chút: “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ Máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa” (Rm 5:5-9).
Chúa Giêsu là Đấng giàu lòng thương xót, hết lòng yêu thương muôn loài, đặc biệt là những kẻ xấu xa nhất, thậm chí Ngài còn chết vì họ – tức là chúng ta. Theo thế gian, cách yêu như vậy bị coi là mù quáng, ngu xuẩn, điên rồ,... Chắc hẳn chỉ có người điên mới hành động như thế. Vậy mà Chúa Giêsu đã yêu như thế. Nếu Ngài không “yêu điên rồ” như vậy thì chúng ta làm sao có được ngày nay?
Quả nhiên là vậy, “nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Ngài, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy” (Rm 5:10). Mà không phải chỉ có thế, Thánh Phaolô xác định: “Chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5:11).
Trình thuật Tin Mừng hôm nay (Lc 15:3-7) khá ngắn gọn, chỉ có 128 từ (theo bản dịch Việt ngữ, bản của VietCatholic). Đoạn Tin Mừng này là một trong các dụ ngôn về Lòng Chúa Thương Xót.
Một hôm, nhóm Pharisêu và các kinh sư xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Những người Pharisêu và các kinh sư là ai? Đó là những nhà thông luật, giữ luật nghiêm túc hơn người, giỏi giang hơn người, đạo đức hơn người, nói năng lưu loát hơn người, sang trọng hơn người, địa vị hơn người, quyền lực hơn người,… thậm chí có thể có ngoại hình “dễ nhìn” hơn người và giàu có hơn người, nhưng cũng hợm hĩnh, ỷ lại, hống hách và kiêu ngạo hơn người. Ngày nay người ta gọi dạng đó là “chảnh”. Nói chung, cái gì ở họ cũng hơn người ráo trọi!
Nhóm Pharisêu và các kinh sư kia cũng chẳng ai xa lạ, tức là chính chúng ta ngày nay, chứ chẳng ai trồng khoai đất này đâu!
Thấy vậy, Đức Giêsu mới kể cho dụ ngôn này: Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”. Vậy, tôi nói cho các ông hay: “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”.
Người ta luôn thấy những “cái lạ” ở Chúa Giêsu, và người ta cảm thấy khó chịu. Vâng, Ngài lại gây “sốc” vì nói điều “nghịch nhĩ” quá! Ngài “điên” thật rồi! Có 99 con chiên béo tốt mà dám bỏ để cố gắng đi tìm duy nhất con chiên yếu đuối, bệnh hoạn, xấu xí,… Quả thật, chúng ta không thể nào hiểu nổi! Nhưng cũng chính nhờ cách “yêu điên” ấy của Chúa Giêsu mà chúng ta mới được phục hồi cương vị làm con và đồng hưởng thừa kế gia sản Nước Trời đấy!
Mẹ Teresa Calcutta (1910-1997, MC – Missionaries of Charity, Thừa Sai Bác Ái, sẽ được tuyên hiển thánh ngày 4-9-2016) xác định “chuỗi hệ lụy” rất kỳ diệu: “Kết quả của IM LẶNG là CẦU NGUYỆN, kết quả của CẦU NGUYỆN là ĐỨC TIN, kết quả của ĐỨC TIN là TÌNH YÊU, kết quả của TÌNH YÊU là PHỤC VỤ, kết quả của PHỤC VỤ là BÌNH AN”.
Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, nguồn êm ái dịu dàng, con thành tâm xin lỗi Ngài vì con đã thường xuyên quên Ngài, thế nhưng Ngài vẫn không ngừng thương xót con, mặc dù con chẳng là gì và hoàn toàn bất xứng. Xin giúp con nhận biết Chúa và nhận biết chính con, nhờ đó con có thể yêu mến Ngài trọn vẹn. Xin ân thương và tha thứ những thiếu sót của con, lạy Đấng giàu lòng thương xót, và xin dạy con biết cách “yêu điên” của Ngài. Xin Nước và Máu Thánh Ngài tẩy rửa cuộc đời con, và xin cho con cũng được vĩnh cư nơi Thánh Tâm Ngài, hôm nay và mãi mãi. Ngài là Đấng hằng sống, hiển trị cùng Chúa Cha và hiệp nhất với Chúa Thánh Thần muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU
CẦU XIN THÁNH TÂM

Thánh Tâm Chúa vô cùng nhân ái
Xin dủ tình thương đoái hồn con
Đời trần lắm nỗi héo hon
Ngày đêm thao thức mỏi mòn khát khao.

Trái tim đã tiêu điều khắc khoải
Nên xác thân ngần ngại đấu tranh
Tâm hồn như cũng đồng tình
Bao đam mê đã hóa xanh xao rồi.

Xin thương xót mảnh đời khốn khổ
Mà chở che nâng đỡ sớm khuya
Thành tâm tin tưởng quay về
Giã từ lối cũ đường xưa lỗi lầm.

TRẦM THIÊN THU
 Trở về
Các bài viết khác:
TÌNH THA THIẾT (22/06 02:18:08 AM)
TRÁI TIM TÌNH YÊU (22/06 01:57:29 AM)
THÁNH NHI (24/05 20:49:34 PM)