Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 19 tháng 10 năm 2017

 SỰ KIỆN - BÌNH LUẬN
(28/05/2017 21:34 PM)
Chia sẻ tin:
GIÁM MỤC PHÓ VÀ GIÁM MỤC PHỤ TÁ

Nhân dịp Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Mạnh làm Giám mục phó với quyền kế vị tại giáo phận Đà Lạt (8/4/2017), và Đức cha Gioan Đỗ Văn Ngân làm Giám mục phụ tá giáo phận Xuân Lộc (2/5/2017). Kính mời Bạn đọc cùng tìm hiểu “Trách nhiệm và quyền hạn của Giám mục phó và Giám mục phụ tá.

  Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và văn bảnhttps://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/thumb/b/b0/T%C3%82N_GI%C3%81M_M%E1%BB%A4C_%C4%90A-MINH_NGUY%E1%BB%84N_V%C4%82N_M%E1%BA%A0NH.png/250px-T%C3%82N_GI%C3%81M_M%E1%BB%A4C_%C4%90A-MINH_NGUY%E1%BB%84N_V%C4%82N_M%E1%BA%A0NH.png

Trước Công đồng Vatican II, người ta bàn cãi về chức Giám mục. Có phe cho chức linh mục là chức thánh chính, còn chức Giám mục chỉ là hình thức bổ túc cho chức linh mục. Ngoài ra, người ta thấy quyền của Giám mục như hình lệ thuộc hoàn toàn vào quyền tối cao của chức Giáo hoàng.

Công đồng Vatican II làm sáng tỏ vấn đề nầy khi dạy: “Khi được tấn phong Giám mục, các Giám mục nhận sự trọn vẹn của Bí tích Truyền Chức Thánh mà tập tục phụng vụ Giáo hội và các thánh Giáo phụ gọi là chức linh mục tối cao và nhận lãnh thực tại toàn vẹn của thánh vụ. Việc tấn phong Giám mục trao ban nhiệm vụ thánh hóa cũng như nhiệm vụ giảng dạy và quản trị; Tuy nhiên, các nhiệm vu ấy, do bản tính, chỉ có thể thực thi trong sự hiệp thông với Thủ lãnh và các phần tử Giám mục đoàn” (Lumen Gentium, số 21).
 
Vì hiệp thông với Thủ lãnh (Đức Giáo hoàng), đứng dầu tổ chức Giáo hội, sự kế thừa quyền chức Tông đồ (successio apostolica) của Giám mục được chia làm hai loại: kế thừa quyền thánh hóa (successio apostolica materialis) và kế thừa quyền quản trị (successio apostolica formalis). Ví dụ: Đức Giám mục truyền chức Giám mục cho linh mục nào mà không có “sự đồng ý của Đức Giáo hoàng”, truyền chức thành sự nhưng mắc vạ tuyệt thông. Thành sự do quyền thánh chức, nhưng bị vạ do quyền
quản trị bị Tòa Thánh hạn chế lại.

Trong giáo phận, các Đức Giám mục kế thừa quyền thánh hóa như nhau, nhưng kế thừa quyền quản trị khác nhau: Đức Giám mục giáo phận (Đức Cha chính) có toàn quyền trên giáo phận của mình về lập pháp, hành pháp và tư pháp (GL. 391 §1). Đức Giám mục phó hoặc phụ tá thì Giáo luật khuyên Đức Giám mục giáo phận trao chức Tổng Đại diện (vicarius generalis) cho các ngài (GL. 406 §1). Lý do dễ hiểu: xét về chức thánh, Giám mục phó hoặc phụ tá trên quyền Tổng Đại diện, nhưng xét về quyền quản trị thì Tổng Đại diện có quyền hơn Giám mục phó hoặc Giám mục phụ tá.

Phân Biệt: Giám mục giáo phận - Giám mục phó - Giám mục phụ tá
 
Giám mục giáo phận (episcopus dioecesanus) là Giám mục được trao cho nhiệm vụ coi sóc một giáo phận và lấy chính tên giáo phận đó làm danh hiệu cho mình (GL. 376). Trước kia, theo Giáo luật cũ năm 1917, Giám mục giáo phận thường được gọi là “Giám mục chính tòa” (episcopus residentialis). Nay Bộ Giáo luật hiện hành 1983 không sử dụng tên gọi này nữa.
 
Giám mục phó (Coadjutor) là Giám mục có quyền kế vị (lên thay thế) Giám mục chính tòa khi vị này từ chức về hưu hay bất ngờ qua đời (GL. 403 §3).
 
Giám mục hiệu tòa (titular bishop) là Giám mục không có nhiệm vụ chính thức coi sóc một giáo phận nào. Trước kia, Giám mục hiệu tòa được gọi là Giám mục “in partibus infidelium” (trong phần đất dân ngoại). Giám mục hiệu tòa không có bất cứ quyền tài phán gì trong hiệu tòa của mình, nhưng chỉ hưởng danh dự của chức Giám mục mà thôi.

Giám mục phụ tá (Auxiliary bishop) là Giám mục được bổ nhiệm để phụ giúp Giám mục chính tòa trong việc điều hành giáo phận. Giám mục phụ tá không có quyền kế vị khi Giám mục giáo phận từ chức hay qua đời (GL. 375-410).
 
Như thế, Giám mục, tuy chức thánh bằng nhau, những quyền hạn và trách nhiệm khác nhau từ trên xuống dưới như nói ở trên.

TẤN PHONG
 
Nếu không bị ngăn trở hợp lệ, người được tiến cử lến chức Giám mục phải được tấn phong trong vòng ba tháng kể từ ngày nhận được Tông Sắc của Tòa Thánh, và trước khi nhận giáo vụ (GL. 379).

Không Giám mục nào được phép phong chức Giám mục cho ai, nếu trước đó chưa có thư ủy nhiệm của Ðức Giáo hoàng (GL. 1.013). Sự vi phạm điều này sẽ làm cho vị Giám mục phong chức, cũng như người nào được Giám mục ấy truyền chức cho, đều bị vạ tuyệt thông tiền kết được dành riêng cho Tông Tòa (GL. 1.382).

Trước khi nhận giáo vụ theo giáo luật, vị được tiến cử Giám mục phải tuyên xưng đức tin và phải tuyên thệ trung thành với Tông Tòa theo công thức do Tông Tòa phê chuẩn (GL. 380 -
Đón xem Nghi Thức Tuyên Xưng Đức Tin của Đức Tân Giám Mục GIOAN ĐỖ VĂN NGÂN tại: https://www.youtube.com/watch?v=16dAZs2nSN0)

Trừ khi được Tông Tòa miễn chuẩn, trong lễ tấn phong Giám mục, Giám mục tấn phong phải có thêm ít là hai Giám mục phụ phong khác. Tuy nhiên cùng với các vị ấy, tất cả các Giám mục hiện diện cũng nên tấn phong người được tuyển chọn (GL. 1.014).

Nghĩa vụ và quyền lợi của Giám mục phụ tá
 
Các nghĩa vụ và quyền lợi của Giám mục phụ tá được ấn định do văn thư bổ nhiệm, do luật chung và do Giám mục giáo phận.

1. Do Tông Sắc bổ nhiệm
 
Ðôi khi do Tông Sắc bổ nhiệm, Tòa Thánh có thể ấn định một số năng quyền đặc biệt dành cho một Giám mục phụ tá.

2. Do luật chung
 
Luật chung ấn định quyền hạn cho Giám mục phụ tá như sau:

2.1. Tổng Ðại Diện hoặc Ðại diện Giám mục

- Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt phải được đặt làm Tổng Ðại diện (GL. 406 §1).

- Giám mục phụ tá thông thường phải được Giám mục giáo phận đặt làm Tổng Ðại diện hoặc ít là Ðại diện Giám mục, và vị này chỉ lệ thuộc quyền Giám mục Giáo phận, hoặc quyền Giám mục phó, hoặc quyền Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt mà thôi (GL. 406 §2), vì chưng Giám mục phụ tá không thể ở dưới quyền của một Tổng Ðại diện không có thánh chức giám mục.

2.2. Trong việc mục vụ giáo phận

Ðiều 407 quy định:

- Giám mục Giáo phận, Giám mục phó và Giám mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt phải hội ý với nhau trong những vấn đề quan trọng hơn (GL. 407 §1).

- Khi phải giải quyết những vấn đề quan trọng hơn, nhất là những vấn đề có tính mục vụ, Giám mục giáo phận phải ưu tiên hội ý với các Giám mục phụ tá trước những người khác (GL. 407 §2).

- Giám mục phụ tá phải thi hành nhiệm vụ của mình thế nào để có sự hiệp nhất với Giám mục giáo phận trong tinh thần cũng như hành động (GL. 407 §3).

2.3. Nghi lễ đại triều và các nghi lễ khác

Nếu không bị ngăn trở chính đáng, mỗi khi được Giám mục giáo phận yêu cầu, Giám mục phụ tá buộc phải cử hành các nghi lễ đại triều và các nghi lễ khác thuộc bổn phận của Giám mục Giáo phận (GL. 408 §1).

Giám mục giáo phận không được thường xuyên ủy thác cho người khác những quyền lợi và những nhiệm vụ thuộc về Giám mục mà Giám mục phó hoặc Giám mục phụ tá có thể thi hành (GL. 408 §2).

2.4. Cư sở

Giám mục phụ tá buộc phải cư trú trong Giáo phận, chỉ được rời giáo phận trong thời gian ngắn, trừ khi phải thi hành một nhiệm vụ ngoài giáo phận hoặc khi đi nghỉ, nhưng kỳ nghỉ không được quá một tháng (GL. 410).

2.5. Một số quyền lợi và nghĩa vụ khác của Giám mục phụ tá

- Tham dự Công đồng chung và địa phương (GL. 339 §1 và 443 §1, 20).
- Thành viên đương nhiên của Hội đồng Giám mục (Ðiều 450 §1).
- Thành viên công nghị giáo phận (GL. 463 §1, 10).
- Thành viên của ban tư vấn (GL. 473 §4).

- Trong lúc Tòa Giám Mục khuyết vị, nếu nhà chức trách có thẩm quyền không ấn định cách khác, thì Giám mục phụ tá chỉ duy trì tất cả những quyền hành và những năng quyền mà ngài có như vị Tổng Ðại diện hoặc vị Ðại diện Giám mục, lúc tòa chưa khuyết vị, cho tới khi tân Giám mục nhậm chức; và nếu không được chỉ định làm Giám quản giáo phận, Giám mục phụ tá phải thi hành quyền mà luật đã ban cho ngài, dưới quyền Giám quản giáo phận là người lãnh đạo giáo phận (GL. 409 §2).

- Khi Tòa Giám Mục bị cản trở (sede impedita) mà Tòa Thánh không dự liệu cách khác, nếu không có Giám mục phó hoặc ngài bị ngăn trở, thì Giám mục phụ tá có quyền lãnh đạo giáo phận (GL. 413 §1).

- Trong lúc Tòa Giám Mục khuyết vị (sede vacante), việc lãnh đạo giáo phận thuộc quyền Giám mục phụ tá cho tới lúc đặt Giám quản giáo phận (GL. 419).

- Giám mục phụ tá có nhiệm vụ phải thông báo sớm hết sức cho Tông Tòa biết tin Giám mục giáo phận từ trần (GL. 422).

- Giám mục phụ tá vẫn giữ quyền hành Tổng Ðại Diện hay Ðại diện Giám mục, khi nhiệm vụ của Giám mục giáo phận bị đình chỉ (GL. 481 §2).

- Có quyền giảng Lời Chúa khắp mọi nơi, kể cả trong các nhà thờ và nhà nguyện của các Hội Dòng thuộc luật Giáo hoàng, trừ khi Giám mục địa phương đã minh nhiên cấm giảng trong những trường hợp đặc biệt (GL. 763).

- Năng quyền giải tội ở khắp nơi trên thế giới, trừ khi Giám mục giáo phận từ chối điều đó trong một trường hợp đặc biệt (GL. 967 1).

- Thừa tác viên thông thường của bí tích Thêm Sức (GL. 882).
- Thừa tác viên của bí tích Truyền Chức Thánh (GL. 1.012).
- Thừa tác viên cử hành việc thánh hiến và cung hiến (GL. 1.169 1 và 1.206).
- Thừa tác viên ban phép lành dành riêng cho các Giám mục (GL. 1.169 §2).
- Có quyền thiết lập cho mình một nhà nguyện tư và lưu giữ Thánh Thể tại nhà nguyện tư của Giám mục (GL. 1.227; Ðiều 934 §1, 20).

- Có quyền tha hình phạt tiền kết do luật thiết lập nhưng chưa được tuyên bố ở tòa ngoài, và nếu Tông Tòa không dành riêng việc giải cho mình, nhưng chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội (GL. 1.355 §2).

- Giám mục được dành riêng cho Ðức Giáo hoàng quyền xét xử trong những vụ án hình sự (GL. 1.405 §1, 30).

- Giám mục được dành riêng cho Tòa Thượng Thẩm Rôma quyền xét xử trong những vụ án hộ sự (GL. 1.405 §3,10).

- Người nào dùng vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám mục, thì bị vạ cấm chế tiền kết; nếu người ấy là giáo sĩ, thì còn bị vạ huyền chức tiền kết nữa (GL. 1.370 §2).

"Khi lợi ích các linh hồn đòi hỏi, Giám mục giáo phận đừng ngần ngại thỉnh nguyện Thẩm quyền thiết đặt một hay nhiều Giám mục phụ tá phục vụ cho giáo phận và không có quyền kế vị" (CD, số 26). Giám mục phụ tá tuy được gọi là "phụ tá" nhưng ngài là "Giám mục của giáo phận". Nói cách khác, Giám mục phụ tá được bổ nhiệm là để phục vụ cho nhu cầu mục vụ của giáo phận, chứ không phải cho riêng cá nhân của Giám mục giáo phận, mặc dù chính Giám mục giáo phận yêu cầu Tòa Thánh bổ nhiệm (GL. 403). Vì chưng, khi Tòa Giám Mục khuyết vị thì quyền hành của các Tổng Ðại diện và Ðại diện giám mục đều chấm dứt, nhưng Giám mục phụ tá vẫn là "Giám mục phụ tá" và giữ nguyên quyền hành cũng như năng quyền mà ngài đã có lúc tòa chưa khuyết vị, cho tới khi có tân Giám mục nhận chức (GL. 409 §2).

Quyền hạn của Giám mục phụ tá còn do chính quyết định của Giám mục giáo phận.

Ðặc Ân Giám Mục
 
Bộ Giáo luật 1983 hiện hành không nói gì đến các đặc ân Giám mục. Tuy nhiên, điều 349 §1, 20 của Bộ Giáo luật cũ 1917 quy định:
 
- Kể từ khi được Tông Tòa bổ nhiệm, các Giám mục có thể mặc áo chùng tím (soutane), áo choàng tím (mantelet: áo choàng không tay, dài tới gối), mũ sọ tím (calotte), mũ trái khế tím (barrette).

- Sau khi được tấn phong, Giám mục được mang thánh giá đeo ngực, nhẫn giám mục, mũ gầu (mitre), gậy mục tử.

Nhậm Chức
 
Giám mục phụ tá nhậm chức khi ngài trình Tông Sắc bổ nhiệm cho Giám mục giáo phận trước sự hiện diện của vị Chưởng ấn Tòa Giám Mục, và vị này lập biên bản về việc nhậm chức (GL. 404 §2).
 
Theo Lm. Lu-y G. Huỳnh Phước Lâm
Tổng Ðại Diện GP. Long Xuyên
 
 Trở về
Các bài viết khác: