Giờ hiện tại
  Giờ Việt Nam

  Hôm nay, Ngày 22 tháng 10 năm 2017

 HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(01/05/2017 01:37 AM)
Chia sẻ tin:
Cử hành sống Bí tích Hôn nhân

JM. Lam Thy ĐVD

Hôn nhân không chỉ liên quan đến hai vợ chồng mà còn liên quan đến một phạm vi rộng lớn hơn, từ họ hàng hai bên cho đến xã hội. Vì mang tính xã hội, tại Việt Nam, về mặt dân sự ta có luật “Hôn nhân và Gia đình” được Quốc Hội thông qua ngày 9/6/2000, gồm 110 điều. Còn về mặt tôn giáo, trong bộ giáo luật của Hội Thánh ban hành ngày 25/1/1983, có 111 khoản về hôn nhân. Luật của Hội Thánh chỉ ràng buộc đối với người Công giáo  [1] (xc. GL 11; 1.059; 1.075 §2) nhằm giúp con cái mình xây dựng một cuộc sống hôn nhân và gia đình bền vững, hạnh phúc, thánh thiện, thể hiện ơn gọi hôn nhân và gia đình như ý Thiên Chúa muốn.

http://www.cuoihoivietnam.com/upload/images/chuanbicuoi/cac-nghi-thcu-le-cuoi-trong-nha-thoi2.jpg

Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 1.639) giải thích về Bí tích Hôn nhân: “Sự ưng thuận tự do, qua đó đôi phối ngẫu tự trao hiến và tiếp nhận nhau, được chính Thiên Chúa đóng ấn. Từ hôn ước của họ phát sinh một định chế. Định chế này đã được chính Thiên Chúa ấn định và có giá trị trước mặt xã hội. Hôn ước được liên kết với giao ước Thiên Chúa ký kết với nhân loại: Tình yêu vợ chồng đích thực được hoà nhập trong tình yêu Thiên Chúa.” Như vậy, để kiện toàn bí tích Hôn nhân, đôi bạn phối ngẫu cần phải “Cử hành và sống Bí tích Hôn nhân trong Chúa Ki-tô và trong Hội Thánh”. Và đó chính là chủ đề Mục vụ tháng 5/2017 (xc. Gợi ý Mục vụ năm 2017 của HĐGMVN). Xin cùng tìm hiểu:

I.- Những điều kiện để lãnh nhận Bí tích Hôn Nhân:

Ðối với Giáo hội Công giáo, hôn nhân không những là một khế ước giữa người với người, mà còn là một Bí tích giữa Thiên Chúa và loài người. Bí tích là dấu chỉ bề ngoài do Chúa Giê-su đã lập, để thông truyền ơn phúc bên trong; vì thế, “Hôn nhân là một Bí tích” thường được hiểu theo hai nghĩa:

* Khi hai người yêu nhau muốn được Thiên Chúa chúc phúc cho họ, thì Bí tích hai người ban cho nhau, cũng sẽ đem lại cho họ ân sủng và phúc lành của Thiên Chúa.

* Ðối với người Công giáo, hôn nhân còn là môi trường giúp cho họ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho họ một cách cụ thể qua tình yêu của người yêu. Nói cách khác, trong tình yêu hôn nhân, họ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa dành cho họ một cách cụ thể: Họ dễ dàng xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương họ tha thiết trong vòng tay của người yêu. Tình yêu trong hôn nhân như thế chính là hình ảnh tình yêu của Chúa dành cho con người. Công đồng Vatican II cũng xác quyết: “Tình yêu chân chính của hai người được thông phần vào tình yêu của Thiên Chúa” (Hiến chế về Mục vụ “Gaudium et Spes”, số 48).

Ðể lãnh nhận Bí tích Hôn Phối cách trọn vẹn, hai người cần hội đủ ba điều kiện căn bản sau đây:

1- Cả hai đều có khả năng về thể lý và tâm lý để sống đời hôn nhân. Hai người đó phải gồm một người nam và một người nữ. Cả hai đều là người Công giáo. Hai người phải hoàn toàn tự do (* Không bị ép buộc bởi bất cứ ai, hoặc bởi bất cứ điều gì; * Không bị cản trở bởi Giáo luật hoặc luật tự nhiên). Hai người phải có ý hướng kết hôn thật tình: Nghĩa là, họ thực lòng muốn lấy nhau làm vợ làm chồng, muốn chung sống với nhau, để hưởng quyền lợi cũng như giúp nhau chu toàn bổn phận trong đời sống hôn nhân.

2- Họ phải công khai hóa sự ưng thuận lấy nhau làm vợ làm chồng..

3- Họ đã cử hành Bí tích Hôn Phối theo nghi thức của Giáo hội.

Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên đây, Bí tích Hôn Phối dù đã lãnh nhận vẫn bị Giáo hội coi là bất thành phép.

II.- Cử hành Bí tích Hôn Nhân: 

1- Nghi thức cử hành Bí tích Hôn Phối:
 
Nghi thức chính để cử hành bí tích Hôn phối trong Giáo hội Công giáo là hai người phải kết hôn trước mặt Giám mục hoặc Linh mục quản xứ, hoặc một Linh mục, một Phó tế nào đó đã được ủy nhiệm (cũng có thể là một giáo dân được ủy nhiệm trong trường hợp thiếu những vị nói trên – xc. Bộ Giáo luật “Codex Iuris Canonici”, số 1.112) cùng với hai nhân chứng.

Giáo hội công khai hóa Bí tích Hôn Phối vì những lý do sau đây:

a) Bí tích Hôn Phối là một nghi thức Phụng vụ của Giáo hội.

b) Sau khi lãnh nhận Bí tích Hôn Phối, hai người đều có bổn phận và quyền lợi đối với nhau, cũng như đối với con cái sẽ sinh ra.

c) Sau khi thành hôn, quyền lợi và bổn phận đó cần được bảo đảm lâu dài, nên cần có thêm sự hiện diện của hai nhân chứng.

d) Khi đã chấp nhận công khai hóa như thế, hai người sẽ dễ dàng trung thành với nhau hơn.

Ðó là nghi thức công khai và chính thức được áp dụng trong các trường hợp chung. Trong những trường hợp riêng (xc. “Codex Iuris Canonici”, số 1.116; 1.127), dĩ nhiên Giáo hội có thể chuẩn chước hình thức kết hôn này. Ngoài ra, Công đồng Vatican II còn cho phép Giáo hội địa phương được nghiên cứu và thí nghiệm những nghi thức đặc thù, hợp với tinh thần, phong tục, văn hóa địa phương. Ðiều cần duy trì trong các nghi thức địa phương này là Linh mục phải chủ tọa lễ nghi Hôn Phối đó (Huấn thị về Phụng vụ “De Sacra Liturgia”, số 77).

2- Thừa tác viên cử hành:
 
Trong Cựu ước, người cha trong gia đình thường đứng ra để chúc hôn cho hai con trong ngày họ thành hôn (x. Tb 7,12). Còn trong Bí tích Hôn Phối, thì hai người phối ngẫu là người chính thức có quyền ban Bí tích đó cho nhau, mà không phải là một vị đại diện Giáo hội như Giám mục, Linh mục hay Phó tế. Nói cách khác, họ là Thừa tác viên của Bí tích mà họ sẽ cùng nhau lãnh nhận trước mặt Chúa và trước mặt Giáo hội (GLHTCG, số 1.623). Ðó là điểm đặc biệt của Bí tích Hôn Phối, khác hẳn với các Bí tích khác. Ðó cũng là điểm khác biệt giữa Giáo hội Tây Phương và Giáo hội Ðông Phương. Ðối với Giáo hội Ðông Phương, Giám mục và Linh mục mới là Thừa tác viên chính thức của Bí tích này.

3- Thẩm quyền chứng hôn:
 
Vị đại diện (Giám mục, Linh mục, Phó tế, hoặc Giáo dân do Giáo quyền đề cử) có thẩm quyền chứng hôn không phải là Thừa tác viên của Bí tích này, nhưng là đại diện cho ba “pháp nhân” cùng một lúc: + Đại diện Chúa để chúc lành cho hôn ước; + Đại diện Giáo hội để chúc mừng đôi tân hôn; + Đại diện xã hội để làm chứng nhân cho hôn ước đã được ký kết giữa hai người. Ngoài ra, sự hiện diện của vị đại diện này cùng với hai nhân chứng còn nhằm diễn tả ba ý nghĩa sau đây:

a- Hôn nhân không phải là chuyện riêng tư của hai họ, nhưng là nghi thức Phụng vụ chung của Giáo hội;

b- Hôn nhân không phải là chuyện riêng tư của hai người, nhưng là dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa dành cho họ;

c- Hôn nhân nói lên sự lưu tâm của Giáo hội đối với hạnh phúc của hai người. Tóm lại, Giáo hội muốn đóng vai trò chứng nhân, để công nhận hôn ước, bảo vệ hạnh phúc và nâng đỡ hai người trên đường đời.

III.- Sống Bí tích Hôn Nhân: 

Trong ngày thành hôn, đôi tân hôn nào cũng được cầu chúc: “Trăm năm hạnh phúc”. Một gia đình hạnh phúc, theo truyền thống văn hoá Việt Nam, là một gia đình “trên thuận dưới hoà, vợ chồng yêu thương nhau, con cái hiếu thảo”. Tuy nhiên, đối với người Ki-tô hữu, một gia đình hạnh phúc còn phải là một gia đình có Chúa Giê-su ở cùng, bởi vì Người chính là tình yêu nối kết tất cả gia đình. “Ơn Đức Giê-su Ki-tô ban khi cử hành Bí tích Hôn phối theo sát đôi bạn trong suốt cả đời sống. Người “còn ở lại với họ để hai vợ chồng cũng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau như Người đã yêu thương Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh. Khi chu toàn sứ mạng hôn nhân và gia đình của họ với sức mạnh của bí tích này, họ được đổ tràn tinh thần của Đức Ki-tô, nhờ đó tất cả đời sống của họ thấm nhuần đức tin, đức cậy, đức mến và càng ngày họ càng tiến tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hoá lẫn nhau; và bởi đó, họ cùng nhau góp phần tôn vinh Thiên Chúa” (Tông huấn Gia Đình “Familiaris Consortio”, số 56).
 
Những đặc tính trong hôn nhân Ki-tô giáo được củng cố bền vững nhờ tính bí tích chứ không phải là đặc tính riêng của hôn nhân Công giáo và các cuộc hôn nhân khác. Hiểu được như vậy, người Ki-tô hữu phải suy nghĩ, cầu nguyện và sống trọn vẹn ơn gọi hôn nhân gia đình của mình. Bởi vì tất cả sự thánh thiện của mỗi người, tất cả niềm vui và hạnh phúc của kiếp người nơi mỗi người đã được Thiên Chúa nhìn thấy qua giá trị của ơn gọi hôn nhân. Hôn nhân Công giáo không chỉ là một định chế gia đình của xã hội, mà hơn thế nữa là ơn gọi cao cả mà Thiên Chúa mời gọi từng người để cùng bước vào, ngõ hầu thông ban cho họ tình yêu, trao cho họ sứ mạng tiếp tục ơn cứu độ, tiếp tục làm phong phú ơn cứu độ. Vợ chồng thương yêu nhau sẽ làm phát sinh và triển nở tình yêu ấy qua những người con. Nhờ việc chu tòan nhiệm vụ giáo dục, cha mẹ đã chuẩn bị cho nhân lọai những công dân tốt, và cho Giáo hội những tín hữu đạo hạnh. Gia đình còn là vườn ươm những ơn gọi khác nhau trong đó có ơn gọi tu trì sau này.

Kết luận: 

Tóm lại, chính là nhờ lãnh nhận bí tích Hôn phối, vợ chồng Ki-tô hữu được củng cố niềm tin để hiểu ra hồng ân thánh hiến con người và cuộc sống, ngõ hầu được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá bậc sống của họ. Nhờ sức mạnh Thánh Linh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Ki-tô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình họ, nhờ đó tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức Tin, Cậy, Mến và càng ngày họ càng tiến gần hơn tới sự trọn lành và sự thánh hóa lẫn nhau, tạo nên một cộng đồng yêu thương, cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa.

Bí tích Hôn phối không phải chỉ được cử hành một lần trong Phụng vụ, mà cần phải được cử hành mỗi ngày một cách cụ thể trong đời sống thường ngày bằng cách tận hiến cho Chúa và hy sinh cho nhau. Như thế, Bí tích Hôn phối là một phần thuộc thực tại cứu độ bao la của Thiên Chúa dành cho loài người qua sự tử nạn và phục sinh của Ðức Ki-tô, Con yêu dấu của Người.

Để sống trọn vẹn ân sủng Bi tích Hôn phối, các gia đình Ki-tô giáo đừng quên học hỏi và cầu nguyện sống sao cho xứng đáng là bản sao trung thực nhất Gia đình Thánh Na-da-rét. Ước được như vậy. Amen.
 Trở về
Các bài viết khác:
Tâm tình với các bạn trẻ (19/08 07:23:14 AM)
Sinh sản có trách nhiệm (03/08 19:03:19 PM)